Bài đã được đăng trên Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 249, tháng 5 năm 2007

Chết đi sống lại

Nói là chết đi nhưng ông ta khi ấy vẫn còn sống; nói là sống lại nhưng bây giờ thì ông ấy cũng đã chết rồi! Nhưng quả thật là ông ấy đã chết đi, và đã sống lại. Cả họ đạo mừng rỡ! Đám táng của ông, có người nói, còn to hơn đám táng của Tỉnh trưởng. Thật ra có thể nói đó là đám táng lớn nhất ở xứ tôi từ trước tới giờ. Nhà thờ đông nghẹt người như trong một ngày lễ trọng. Không phải người ta hiếu kỳ nhưng sau khi cha giảng ở nhà thờ, sau khi nghe chuông báo tin, bà con đã đến để góp thêm phần cầu nguyện cho ông.

Đường đi từ nhà thờ đến “đất thánh”(1) chỉ độ non 500 thước. Ra khỏi nhà thờ, quẹo qua trái, đi hơn một lô đất, quẹo trái lần nữa rồi đi dọc theo bề dài của lô đất, thêm một khoảng đường như vậy nữa là tới đất thánh. Thông thường, khi “thánh giá đèn hầu” vừa quẹo lần thứ hai thì quan tài đã ra khỏi nhà thờ. Như vậy thì cũng có non sáu, bảy chục người, nhưng lần này, thánh giá đèn hầu đã đến cỗng vào đất thánh mà quan tài còn trên tiền đàng nhà thờ! Tính ra cũng phải có tới ít nhất là ba, bốn trăm người. Nhiều người thèm được chết như ông…

Không phải thèm được chết như ông để có được nhiều người đưa tiễn, nhưng cái chết của ông là một cái chết đáng được thèm khát. Ai trong họ đạo này mà không biết ông. Ông làm thợ rèn. Ba ông cũng làm thợ rèn. Nghề thợ rèn đã bắt đầu từ đời ông nội ông, nhưng ông nội và ba ông chỉ làm nghề thợ rèn suông mà tới ông thì không còn đơn sơ như trước. Ông làm thêm nghề mới: nghề điều binh khiển tướng, trừ ma ếm quỷ. Mà chuyện ma quỷ thì đâu có hợp với đạo Chúa, nên ông bỏ Chúa, bỏ nhà thờ. Ông xa lánh nhà thờ, xa lánh cha thầy, cả bà con trong họ đạo trước đây là bạn bè của ông, ông cũng xa lánh. Người ta biết tới ông là vì ông bỏ đạo, bỏ đạo Chúa! Người có đạo hay người bên lương gì cũng biết chuyện đó.

***

Năm đó, một sự kiện cả thể xảy ra tại họ đạo tôi. Họ đạo tôi tổ chức tuần cấm phòng mùa chay. Cha sở mời các cha dòng Chúa Cứu Thế trên Sài Gòn xuống giảng. Các cha này không giống mấy cha của mình. Các cha mặc áo dòng không có gài nút ở giữa, mà có một miếng vải vắt xéo qua, ở bụng có sợi dây nịt to, một xâu chuỗi lần to đeo ở sợi dây nịt, cổ có đeo cái khoan cổ trắng to. Tuần cấm phòng thì mấy cha này gọi là “tuần đại phước!” Hơn 50 năm qua rồi mà tôi vẫn còn thấy trong đầu hình ảnh của ba tuần đại phước…

Nhà thờ lúc nào cũng có người, rần rần rộ rộ. Bên chỗ này, người ta họp người ta cải: cha chạy tới giải đáp. Bên chỗ kia, đám nhỏ tập hát, vừa hát vừa nhảy. Lần đầu tiên tôi thấy cha Tây. Ba cha dòng Chúa Cứu Thế đến họ tôi lần đó gồm có cha Yến, người Việt mình, còn hai cha kia, một cha tên là Lapointe, có râu dài, còn cha thứ ba tên khó đọc quá nên tôi không làm sao nhớ ra được, chỉ còn nhớ cha là người Gia Nã Đại. Ba cha vui lắm. Lần đầu tiên, tôi và mấy bạn tôi được nắm tay ông cha. Mỗi lần nói chuyện với cha mà cha không nghe được, cha Lapointe phải ngồi xuống để nghe chúng tôi nói, cha cao lắm...

Mỗi ngày đều có giảng. Các cha không đứng giảng như bây giờ, mà lên đứng giảng ở “tòa giảng”. Tòa giảng hình tròn, có mấy bực thang để leo lên ở phía sau, có mái che ở phía trên, có vách cây bao xung quanh, tất cả đều được chạm trỗ, đẹp lắm! Cha Yến và cha người Gia Nã Đại thì không sao, còn cha Lapointe thì khi lên tòa giảng, cha phải khom mình thật sâu để khỏi đụng đầu! Lần nào cũng vậy, trước khi bắt đầu giảng, các cha làm phép ảnh Chúa, ảnh Đức Mẹ, chuỗi lần. Bà con ngồi tại chỗ đưa lên, cha đọc kinh làm phép, rảy nước thánh. Xong, các cha kêu gọi cầu nguyện cho những người “nguội lạnh”, những người “có trắc trở”, … rồi các cha mới bắt đầu giảng.

Họ đạo tôi được chia ra làm ba khu. Ba cha chia nhau làm việc ở một khu. Cha Yến đi khu Xóm Cát, rất nhiều người đạo Công Giáo. Cha thăm hết nhà này qua nhà kia. Nghe “động tịnh” ở nhà nào, cha liền tìm cách tới thăm nhà đó. Cha đi đâu, có cái đuôi con nít kéo dài theo phía sau. Cha người Gia Nã Đại thì coi khu Xóm Chợ. Cha Lapointe coi khu tôi ở, gọi là Xóm Nò.

Một hôm sau lễ sáng, tôi mới vừa cơm nước xong định đi lên nhà thờ thì nghe tiếng kêu ngoài cửa ngỏ:

- Còn oi! Còn oi! (Con ơi! Con ơi!)

Tôi chạy ra chào cha thì cha kêu tôi đi với cha xuống nhà ông tư lò rèn. Cha hỏi:

- Con biết nhà ông tư lò rèn không?

- Dạ biết!

- Xa không con?

- Dạ không, qua khỏi ngả quẹo đó một chút thì tới, cha!

- Đi con! Đi với cha!

Hai cha con tới trước nhà ông tư lò rèn. Tôi thấy bóng ông ở trong nhà, nghĩa là ông có ở nhà. Tôi liền nói với cha:

- Ông tư có ở nhà cha!

Cha liền lên tiếng:

- Òng oi! Òng oi! (Ông ơi! Ông ơi!)

Không có tiếng trả lời. Cha bước qua bước lại trước cửa ngỏ. Cha kêu nữa. Cũng không có tiếng trả lời. Cha tiếp tục kêu. Ổng bước ra, mặc vỏn vẹn chỉ có cái quần đùi đen, mình để trần:

- Ông tìm ai?

- Tôi đi tìm ông!

- Tôi không quen với ông.

- Dạ, tôi muốn làm quen với ông.

Đến đây, ông định quay trở vào nhà thì cha lại lên tiếng:

- Òng oi! Tôi muốn nói chuyện với ông một chút. Tôi đến đây để thăm ông.

Ông tư lò rèn có vẻ tức giận. Ông lẩm bẩm:

- Thằng cha râu xồm này ở đâu mà tới đây chi đây hổng biết..

Có lẻ nghe không rõ nên cha lại nói:

- Hôm nay trời đẹp quá, ông có làm gì không? Tôi định tới thăm nói chuyện chơi với ông một chút.

Đã mấy lần cha sở cũng đã có tới, để thăm ông, và để khuyên lơn ông, nhưng mà ông đã bác, và ông không còn muốn tiếp các cha nữa. Cha Lapointe quay lại nói với tôi:

- Con ở ngoài này chờ cha nghe!

Rồi cha chậm chậm đi vào bên trong sân. Ông tư đứng im một chỗ trên thềm nhà, nhìn cha gay gắt. Tôi ngồi xuống bụi cỏ ở mô đất bên lề đường. Cha và ông tư nói chuyện, vẫn đứng trước cửa nhà. Tôi thấy cha đưa tay chỉ lên trời, chắc là cha nói là cha ở trên Sài Gòn xuống. Rồi tự nhiên, tôi nghe ông tư hơi to tiếng:

- Thôi về đi! Tui không có cần ông!

Cha nói thêm gì đó nữa một chút xíu rồi cha từ giả

- Hôm nào tôi trở lại thăm ông nhá!

- Thôi khỏi trở lại!

Cha đi ra, dẫn tôi theo thăm một số nhà khác trong khu, xong cha trở về nhà thờ.

Tưởng vậy là xong, nhưng không, hai ba hôm sau, cha lại trở lại. Tôi đi theo, và ngồi chờ ngoài đường như lần trước. Lần này, ông tư cũng vẫn mặc chiếc quần đùi đen, nhưng có thêm cái áo bà ba đen. Ông mời cha vô nhà, rồi nói chuyện hơi lâu. Lúc cha ra về, ông tư đưa cha ra tới thềm nhà. Rồi chừng cách một ngày, cha trở lại nữa. Tôi đi theo nữa. Lần này ông tư mặc cái quần dài đen và cái áo bà ba đen. Ông ngoắc, kêu tôi vô nhà. Ông nói với cha:

- Tui biết thằng này! Nó là cháu ngoại chị sáu Lai, bạn tui. Bả mới chết cách đây hai năm, cũng gần 70!

Tôi vào nhà, leo ngồi ở bộ ván gian bên, còn cha thì ngồi nói chuyện với ông tư ở bàn ở gian giữa nhà, nói chuyện hơi lâu. Ông tư rót nước trà mời cha uống. Cha nói, ông ngồi im lặng nghe. Ông nói, cha gật gật đầu. Rồi xong chuyện, ông tiễn cha con tôi. Cha rút trong túi áo dòng ra một xâu chuỗi, cha làm phép rồi đưa cho ông. Ông đưa hai tay ra nhận xâu chuỗi, rồi cha con tôi ra về…

Thắm thoát mà ba tuần lễ trôi qua quá mau. Ngày thứ bảy thứ ba trong tuần đại phúc, một việc vĩ đại nữa xảy ra ở họ đạo tôi, ở tỉnh tôi. Các cha dòng Chúa Cứu Thế tổ chức cuộc kiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đi vòng tỉnh. Không có đi kiệu chung quanh nhà thờ như mọi lần, mà là đi ra ngoài đường lộ, đi mấy con đường lộ lớn, vòng quanh châu thành. Những người có nhà ở trên đường đoàn kiệu đi qua, người ta làm bàn thờ Đức Mẹ để ở trước cửa nhà, có bông có đèn, hưởng ứng cuộc kiệu. Đi ngang qua ngả tư gần nhà tôi, tôi thấy ông tư mặc bộ đồ pyjama trắng, đứng khoanh tay, cúi đầu, một tay ông cầm xâu chuỗi lần…

Hôm sau Chúa nhật, ngày cuối của tuần đại phúc! Lễ xong, người ta vây quanh các cha dòng. Ai cũng muốn nói với các cha, từ giả các cha. Để khỏi mích lòng, các cha đi vòng vòng, để gặp được mọi người. Các cha đi vuốt đầu chúng tôi. Cha Lapointe thì ôm tôi. Hôm sau, thứ hai, xe đò tới tận nhà thờ đón các cha. Cả trăm người đứng đưa các cha. Các cha lên xe rồi, tôi còn chạy theo nắm tay cha Lapointe một lần nữa. Xe đò đi..

***

Hôm đó sau lễ Phục Sinh, ngày thường mà tự nhiên khoảng 9 giờ sáng có chuông nhà thờ đổ. Chuông nhì đổ nhanh xong, chuông nhứt bắt đầu ngân chậm. Người ta bắt đầu đếm: một, hai, …, bảy rồi im: một người đàn ông chết. Ai? Ông tư lò rèn chớ ai! Mấy hôm rày cha sở xuống xức dầu cho ông, đem Mình Chúa cho ông. Sau khi hay tin ông trở lại, vợ ông đã trở về lo cho ông. Ông đã xua đuổi cha, nhưng mấy hôm rày ngày nào cha sở cũng ngồi bên giường ông. Ông đưa tay nắm lấy tay cha sở. Rồi ông đã ra đi trong một ngày thứ bảy: ngày dành riêng kính Đức Mẹ. Và đám táng của ông thiệt là rỡ ràng, hết hội đoàn này đến hội đoàn khác đến cầu lễ. Kinh kệ cho ông suốt ngày. Ngày Chúa nhật, giảng trong nhà thờ, cha sở có nói tới ông. Cha đã nói: Thiệt là có phước, tưởng là ông đã chết, nhưng ông đã sống lại!


(1) Tên gọi của nghĩa trang dành cho người Công Giáo ở xứ tôi.