Chúa vẫn thương

     Tôi có người ông cậu tên là thầy tư Điểm, thuộc dòng thầy giảng Cái Nhum. Năm đó, lâu lắm rồi, ông tôi được nhà dòng gởi đi Pháp du học. Khi về, ông có mang theo mình hai tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu, định cho bà ngoại tôi một, má tôi một. Nhưng khi ông về nước sau ba năm du học, ngoại tôi không còn nên ông giao hết cho má tôi. Đó là tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu cao độ 4 tấc. Chúa mặc áo màu đỏ, bàn tay phải để phía trước, chỉ ngón tay trỏ ra, bàn tay trái để nơi phía trái ngực, ngón tay trỏ chỉ vào trái tim để lộ ra. Gương mặt Chúa trông thật hiền từ, với đôi mắt nhìn một cách mà tôi không biết làm sao mô tả cho rõ được. Một điều tôi không bao giờ quên được là “Chúa này” đã ở với gia đình tôi trong nhiều năm với nhiều kỷ niệm cho đến ngày tôi rời quê hương, Chúa phải ở lại.
      Trong một thời gian sau khi có bức tượng quí này trong nhà, bà con trong họ đạo, có bà con hay không có bà con, quen nhiều hay quen ít, đã đến nhà tôi rất đông để ngắm bức tượng, tượng ở bên Tây về mà! Nội hai chữ bên Tây thôi cũng đủ thấy quí rồi. Mỗi lần có ai tới là ba tôi phải giải thích, giảng giải: bức tượng này do hãng gì gì đó làm ra, làm theo mẫu do họa sĩ tên gì gì đó vẽ, hãng này đã làm bao nhiêu bức tượng một năm, hãng này đặt tại đâu, ở cái tỉnh gì gì đó bên Tây, ... Bà con thích nghe như vậy lắm. Cứ chiều Chúa nhật sau phép lành là có độ hơn chục người đi tới nhà tôi, và ngày thường sau lễ sáng.
      Vì có tới hai tượng như nhau nên một người dì họ thấy vậy đã giành liền:
     - Làm gì mà dì thờ tới hai Chúa một lúc?
      Nghe tức cười, ba má tôi đã nghĩ mà còn ái ngại nếu phải giao cho người dì ấy một trong hai bức tượng. Dì ấy cũng “còn” giữ đạo nhưng vì cái tật mê “điều binh khiển tướng” của dì ấy làm cho má tôi còn lưỡng lự, không muốn chia cho dì một tượng Chúa. Đợi lâu mà không thấy trả lời, tức chí, dì hỏi gặn má tôi:
     - Bộ dì sợ tôi thua bài rồi bán tượng Chúa sao mà dì không chịu đưa cho tôi cho rồi, để tôi đem về tôi thờ? Dì sáu (ngoại tôi) mà còn, tôi nói cái một là xong!
      Rồi dì hí hửng đến ôm tượng Chúa về nhà sau khi ba má tôi ưng thuận. Rước Chúa về nhà dì, ba má tôi đi, có anh em tôi đi theo như một đoàn rước làm cho dì phải nói:
      - Tới coi coi bàn thờ tôi để tượng Chúa có đẹp hơn bàn thờ ở nhà dì không cho biết!
      Mà thiệt, dì có cái tủ đứng cẩn xa cừ dùng làm bàn thờ, dì phủ khăn trắng có thêu “rua” xung quanh. Tượng Chúa được đặt giữa hai chưn đèn cầy bằng đồng được chùi sáng choang. Buổi tiễn đưa Chúa về nhà mới kể như xong, ba tôi nói:
      - Chị để tượng Chúa đây rồi khi nào “đậu chến”, chị ngồi quay mặt về tượng Chúa, vừa kéo vừa cầu xin, Chúa sẽ phù hộ cho chị “tới” liền liền!
      - Nói bậy nà!
      Dì tiếp tục công việc xưa rày của dì là bán cá ở chợ. Ít lâu sau đó, dì tôi đi lễ sáng mỗi ngày, thường xuyên. Thấy vậy, má tôi mới hỏi:
      - Bộ lúc rày, tối tối chị không có khách khứa gì sao mà sáng nào cũng đi lễ được vậy?
      - Hết tiệt rồi dì ơi!
      Dì ghé tai nói nhỏ với má tôi:
     - Chúa này linh lắm! Chúa rày tôi mấy lần. Tôi thề dứt tiệt!

***

      Các cha đổi đến họ tôi thường thích ghé nhà chơi với ba tôi. Có vài lý do khiến các cha đến với ba tôi. Thứ nhất là tại vì ba tôi là em ruột của hai ông cha, một bà phước. Cô bảy tôi là bà phước nhà trắng Sài Gòn, đau khi đang tu, rồi chết được đem về chôn tại quê nhà. Ba anh em trai thứ chín, thứ mười, thứ mười một thì bác chín tôi sau khi làm cha phó ở vài nơi, về làm cha sở họ đạo Búng rồi đổi về Khánh Hội, rồi bị Việt Minh giết năm 1945. Bác mười tôi thì sau khi làm cha, lại trôi về địa phận Vĩnh Long, sau khi làm cha phó vài nơi, về làm cha sở họ Vĩnh Long, làm cha chính địa phận rồi làm giám mục địa phận Cần Thơ.
      Thứ hai là vì ba tôi là thứ mười một, út, tu ra, cùng lớp với nhiều cha, nên khi đến họ đạo này này, nhiều cha biết tới tên ba tôi, trên dưới nhau một vài lớp, nhiều chuyện để nói, nhiều kỷ niệm để nhắc lại của những ngày trong chủng viện.
      Thứ ba là vì ba tôi có theo chút đỉnh Tây học, các cha thường hay tới nhà để trao đổi các sách đọc tiếng Pháp, phần đông là các cha mượn sách của ba tôi. Ba tôi có tới ba rương sách to, rất nhiều sách. Khi tới nhà để mượn sách hay để trao đổi, nhiều khi cha sở với ba tôi nói chuyện với nhau, “làm” luôn một hơi, toàn là tiếng Tây.
      Do có chút thân tình, giờ nhà tôi lại có được bức tượng quí như vậy, làm gì mà cha sở không tới, nhưng cha phải tránh các giờ mà bà con có thể ghé nhà. Cha tới lúc mà ai cũng phải đi làm, khoảng hai ba giờ trưa. Cha bước tới trước tượng Chúa. Cha làm dấu Thánh Giá. Cha cúi đầu, thinh lặng một lúc. Cha lại làm dấu Thánh Giá. Cha ngước mặt lên, ngắm bức tượng. Cha ngắm phía bên trái. Cha ngắm phía bên phải. Cha ngắm phía bên sau. Rồi cha nói với ba tôi:
      - Nghe nói anh có tới hai tượng lận mà?
      - Dạ má sấp nhỏ đưa cho chị bà con của bả một tượng.
      - Chèn tiếc quá! Chớ phải biết được tôi tới sớm, tôi xin hai ông bà thì kể như là tôi có bức tượng Thánh Tâm rồi! Thầy tư Điểm có ghé thăm từ giả tôi, có nói về hai bức tượng mà tôi đâu có biết.

***

      Hồi đó có nạn chạy giặc, giặc “Tây!” Hễ nghe la “Tây tới” là bà con xóm làng hè nhau chạy. Chạy đi đâu? Có lúc phải chạy xa, bỏ nhà cửa lại. Có lúc chỉ cần chạy trốn ra sau vườn, tùy theo lệnh!? Mỗi lần tới, Tây nó ngồi trên xe tăng, chạy vòng vòng trong tỉnh, cầm súng bắn tứ tung. Ngang nhà ai, nó cứ bắn xả vào nhà, chết ai nấy chịu. Mà nó bắn ai? Ai mà biết, chỉ biết là khi nào có Tây tới thì là lo chạy, tránh đạn. Hôm đó, Tây tới. Lần này biết chạy đi đâu? Lệnh cho biết: chạy ra sau hè nhà để trốn, đừng để cho Tây thấy mặt! Ba tôi lo ôm một mớ vật dụng quí giá, giấy tờ. Má tôi lo lấy khăn, vải quấn lấy tượng Chúa, rồi cả nhà chạy ra sau vườn để núp, trốn Tây. Cả nhà tôi, ba má anh em tôi, ba người cậu, tất cả chín người với con chó chạy ra nằm dài dưới đất, núp sau mấy bụi chuối, bụi thơm (dứa). Tây đi ngang, bắn ào ào vô nhà. Vách nhà bị lủng nhiều nơi, mái ngói bể loang lổ. Tiếng đạn xuyên qua mấy cây chuối, xé thân cây kêu soạt một tiếng, nghe điếng hồn. Tây đi rồi, nhiều người bị thương. Gia đình tôi bình yên, một lòng tin nơi Chúa chở che. Súng đạn nào có từ ai! Người ta có thể giải thích bằng lý này lẽ nọ, nhưng xin cho phép tôi tin rằng đó là hồng ân Chúa đã ban cho gia đình tôi.

      Sau khi “Tây tới” rồi thì tới thời Việt Minh. Cô tư Sĩ là một người bạn thân của ba má tôi. Cô là bạn của má tôi, còn thầy tư Sĩ chồng cô là bạn của ba tôi. Thầy tư đi Việt Minh, thỉnh thoảng ghé về thăm vợ, thăm con tại nhà cô, hay có lúc tại nhà ba má tôi. Khi nào ghé nhà ba má tôi, tuy là không có đạo nhưng lần nào cũng vậy trước khi ngủ, cô hay đứng trước bàn thờ, hai tay chấp lại, xá tượng Chúa của nhà tôi. Một hôm, hôm đó, trời chạng vạng tối, cô lẻn vào nhà tôi bằng cửa sau. Đêm đó cô ngủ lại tại nhà ba má tôi. Sáng sớm hôm sau, cô thức dậy, mặt bơ phờ, còn có vẻ như sợ hãi. Ba má tôi hỏi thì cô cho biết: “Tôi nằm mơ thấy ông Chúa của bà kêu tôi dậy, nói: ngày mai phải rời nhà này ngay. Tôi sợ quá, lạy mấy lạy thì ông Chúa biến mất.” Trời còn mờ sáng, cô lẻn ra khỏi nhà đi mất. Chiều tối lại, nhà vừa đóng cửa xong, nhìn qua khe vách, ba tôi thấy nhiều người lính cầm súng, núp xung quanh khu nhà tôi. Tây nó được mật báo là thầy tư Sĩ sẽ về thăm vợ tại nhà này, nhưng canh hoài hai ba đêm mà không thấy gì hết... Ba tôi nói nhỏ: Chúa đã che chở hai vợ chồng cổ! Nhưng rồi oan nghiệt của chiến tranh cũng tới, thầy bị bắn chết. Rồi có ai ngờ, khoảng hơn năm sau, cô xin theo đạo. Cô lại “đòi” một chuyện bất nhơn mà dù là thân mấy, ba má tôi không thể chìu ý cô được: cô xin tượng Chúa! Cô hay nói: đây là đấng đã phù hộ cô.

***

      Chú tư Lợi là một người được nhiều người ở xứ tôi biết tới. Ở nhà thờ, tuy không phải là biện hay từ, chú làm nhiều việc để phụ giúp nhà thờ. Ngày thường, chú săn sóc cây cối xung quanh nhà thờ. Sáng sớm, sau khi nhà thờ đổ chuông, tới nhà thờ, chú lo đi mở tất cả các cửa, rồi chú vòng vô phòng thánh để phụ chú từ, xong chú mới trở ra lo xem lễ. Rồi sau lễ, cà phê cà pháo xong xuôi, chú trở lại nhà thờ để làm cỏ. Chú hay nói: Chú là kẻ thù của cỏ dại, chú làm sạch bách. Ở ngoài đời, chú là một cầu thủ có hạng của đội banh tỉnh nhà. Tuy không thể được xếp hạng ngang hàng với ba tôi, nhưng khi mà ba tôi “thống trị” bên cánh mặt mà nhiều đội banh khách phải nể mặt thì cánh trái là phần đất hoạt động của chú tư. Đi nhiều nơi, đội banh xứ tôi đã đạt nhiều thắng lợi.
      Được cái điều là nhà ba má chú tư ở đâu lưng với nhà ba má tôi, chung một cuộc đất nhưng ngó ra hai mặt đường khác nhau, không xa bao nhiêu nên chú tư khi rảnh rổi thường ghé nhà chơi với ba tôi, đánh cờ tướng. Thường mỗi khi ra về, tôi còn nhớ chú hay nói:
      - Để lần tới anh biết tôi, bị kẹt bữa nay tôi mất xe sớm quá!...
      Đùng một cái, chú tư bỏ xứ đi biệt tích. Mất chú, đội banh tỉnh nhà bị “xệ” ở cánh trái, đi đâu đấm đá cũng chỉ từ huề tới thua. Vắng chú, cỏ dại ở nhà thờ nghênh ngang mọc trở lại. Không có chú, ba tôi thiếu địch thủ cờ tướng xứng đáng, bởi ba tôi hay nói: “coi vậy chớ nó khá hơn mấy người khác.” Rồi một hôm, trời chạng vạng tối, một người đội nón lụp xụp đi vào nhà tôi. Anh em tôi nhận ra được ngay đó là chú tư Lợi. Hơn nữa, con chó nhà tôi cũng không sủa. Ba má tôi bước ra, thấy chú mới nói:
      - Chèn ơi! Chú đội chi nón lụp xụp làm tôi nhìn không được, tưởng ...
      Từ hôm đó, chú tư trở về nhà, về lại xóm giềng nhưng chú cũng không đi đâu, không đi đá banh, không đi nhà thờ. Chuyện tình cờ, hôm đó cha sở tới chơi với ba tôi thì chú tư Lợi cũng đang có mặt tại nhà. Thấy cha, chú tư chào cha xong rồi kiếm cách rút lui, nhưng cha chận:
     - Lợi! Đi đâu con? Ở lại chơi mà! Lâu quá cha không gặp con. Nay gặp lại, cha mừng quá.
     - Dạ, cha ở chơi với anh mười. Con ở lối xóm, gặp ảnh hà rằm, với lại nảy giờ con ở cũng lâu rồi.
     - Con gặp anh mười, chớ con đâu có gặp cha.
     - Dạ …
     - Dạ gì, ở lại đây nói chuyện chơi.
      - Con thấy tượng Chúa nhà anh mười chưa? Tượng ...
      Cha đang nói, ba tôi nhảy vô:
      - Chú thích tượng này lắm đó cha! Tới đây, chú hay ngồi ngắm tượng.
      Bắt trớn được rồi, cha nói với chú tư:
      - Vắng con, mỗi lần gặp cha, anh mười đây nhắc con hoài. Thỉnh thoảng bà con trong họ cũng nói tới con.
      - Bị con bê bối quá nên không muốn đi đâu.
      - Không đi đâu nhưng cũng phải rán đi nhà thờ chớ con! Bỏ gì bỏ nhưng đâu có bỏ Chúa được.
      Nghe cha nói vậy, chú ngồi cúi đầu xuống. Thấy vậy, cha không nói thêm, và có hẹn hôm nào sẽ ghé nhà chú chơi. Cha cũng không quên nhắn nhủ “hôm nào đi đâu, ghé cha chơi.” Cha về, rồi chú tư về. Hai người về rồi, ba tôi nói với má tôi: “Tội nghiệp! Cái thằng hiền!” Má tôi nói: cũng tại con đàn bà! Nghe nói vậy chớ tôi nào có hiểu gì, chỉ biết là chú “bê bối” theo như chú nói.

***

      Chú tư Lợi đi xa xứ vậy mà ba tôi tính ra cũng gần ba năm cho nên lúc ông tư tôi bên Pháp về, chú không biết, giờ chú trở về, chú thấy bàn thờ nhà tôi lạ, có thêm tượng Thánh Tâm. Từ từ trở lại bình thường, cứ vài ba ngày là chú đội nón lụp xụp tới nhà đánh cờ, nói chuyện chơi với ba tôi. Mỗi lần tới nhà, tôi để ý thấy chú hay ngồi bật ngửa ra, dựa vào lưng ghế, hai tay khoanh lại, vừa nói chuyện vừa ngó bàn thờ. Lần đó, chú đang ngồi nói chuyện với ba tôi thì cha sở đạp xe tới. Trong câu chuyện, cha sở có đề cập tới việc chuẩn bị cho lễ Thánh Tâm sắp tới. Cha định trang hoàng, sửa sang tượng Thánh Tâm Chúa trong nhà thờ. Làm thì chắc chắn là phải làm rồi, nhưng mấy ông biện thì già nua, tượng Chúa thì ở trên cao. Vô tình, cha sở buột miệng nói:
      - Hay là con lên phụ với cha đi Lợi!
     Chú ngần ngừ rồi nói:
      - Làm thì được rồi, nhưng con thấy con tội lỗi quá cha, chưa dám trở lại nhà thờ!
      - Nhưng mà Chúa đâu có ghét người có tội, con! Có tội thì mình lo ăn năn trở lại...
      Tưởng vậy rồi thôi, cách vài ba ngày, hôm đó sáng sớm, chú ghé lại nhà tôi, đầu không có đội nón lụp xụp. Chú có vẻ vui vẻ nói với ba tôi:
      - Sao kì quá anh mười! Mấy hôm rày, đêm nào tôi cũng thấy Chúa ở nhà anh!
      - Chúa có nói gì với chú không?
      - Có! Mà sao kì! Chúa nói giống như cha sở vậy: “Sao con không ghé cha?”
      Ba tôi ngẩm nghĩ rồi nói:
      - Hay là ý Chúa định chú trở lại gặp cha, rồi lo trở lại.
      - Tôi tính tới rủ anh đi lên cha, bàn với cha vụ lo sửa sang tượng Thánh Tâm.
      Ba tôi kể lại: từ ngày hôm đó, chú tư Lợi bước chân trở lại nhà thờ. Có ai ghét bỏ gì chú đâu, ai gặp chú cũng tay bắt mặt mừng. Chuyện của chú làm cho người ta suy nghĩ: Chúa thương người có tội!