Bài đã được đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 346, tháng 6 năm 2015
Thánh Tâm Chúa

Đó là chuyện xảy ra ở xứ tôi, mà tôi nghĩ ở xứ khác thì cũng vậy thôi. Hơn nữa, tôi cũng đã có dịp đi qua nhiều nhà thờ, nhiều xứ đạo mà ở những nơi đó tôi cũng thấy như vậy. Không kể những giáo xứ, nhà thờ mà tên gọi quá rõ ràng, nhiều nơi tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu được thấy bên ngoài nhà thờ, trong nhà thờ, giữa nhà thờ.

Thí dụ như giáo xứ Thánh Tâm thuộc Giáo họ Thủ Đức, Giáo hạt Thủ Đức được thành lập từ năm 1956. Đã mang tên là Thánh Tâm thì nhắm mắt ta cũng có thể thấy được tượng Thánh Tâm Chúa trong nhà thờ, và đoán biết được Thánh Tâm Chúa là bổn mạng nhà thờ và giáo xứ.

Như ở nhà thờ Gia Định, ngay nơi mặt tiền, người ta thấy ngay tượng Thánh Tâm Chúa trên cao. Ai đi ngang qua cũng thấy. Ai đi ngang qua cũng nhìn. Những người có đạo đi ngang khẻ cúi đầu, kính chào Chúa. Có những người đạp xe xích lô đi ngang, quay mặt vô nhà thờ, một tay cầm lái, tay kia dỡ nón, cúi đầu ...

Như nhà thờ Chợ Quán, vừa bước vô cửa chánh, nhìn lên cao, là thấy ngay tượng Thánh Tâm Chúa. Thánh Tâm Chúa cũng là bổn mạng nhà thờ.

Còn như ở xứ tôi, nhà thờ Bà Rịa cũng vậy nhưng, ngày xưa khác, bây giờ khác. Chuyện này tôi muốn nói về Thánh Tâm Chúa, mà bối cảnh xảy ra ở xứ tôi.

***

Trước hết, có những hình ảnh bên trong nhà thờ mà đi đâu người dân xứ tôi cũng nhớ lại. Vừa buớc vô cổng chánh nhà thờ, dòm lên cao là thấy ngay Chúa. Tượng Chúa "ngự" trên cao, bên trên nhà tạm, cho nên khi bước vô nhà thờ bằng cổng chánh, cứ việc bái gối cúi đầu xuống phía trước thì ... "trúng" ngay Chúa chớ không trật đi đâu.

Còn như vô nhà thờ bằng cửa ở hai bên hông thì có thể khác. Có ngưòi cứ bước vô, khi đã có được "tư thế" rồi cứ thẳng tới trước mà bái mà lạy. Nếu có ai để ý nhìn thì đó là bàn thờ thánh Giuse đối với bên nam, và là bàn thờ Đức Mẹ đối với bên nữ!

Có cái điều ngộ là có ai đi xa, khi trở về quê miệng nói là thăm lại bà con nhưng cứ mong đến nhà thờ để viếng Chúa, để gặp lại Chúa. Nói ra sợ mấy cha rầy là: "Chúa đâu lại không Chúa", nhưng nói thiệt với các cha, Chúa ở trong nhà thờ ở quên mình mới ... chính là Chúa. Nhà thờ ở đâu mà lại không có tượng Chúa, vậy mà tượng Chúa ở đâu cũng không bằng tượng Chúa trong nhà thờ của quê mình. Nó ghi lại biết bao kỷ niệm, từ lễ này tới lễ nọ, đời này qua đời kia, hỏi sao không nhớ.

Vị trí đó, hình tượng đó, tuy ở những nơi khác có giống nhưng bà con xứ tôi cứ thấy ở quê tôi có một cái gì khác lạ, có cái gì ... hơn. Tuy tượng Chúa cũng mặc áo đỏ, cũng một tay vịn vào vạt áo, một tay chỉ vào trái tim, nhưng màu đỏ ở xứ mình rực rỡ hơn, gương mặt Chúa nhìn hiền từ hơn, con mắt Chúa nhìn nhiều nét khoan dung hơn. Gầm ra, cái gì ở xứ tôi cũng hơn. Chúa này là Chúa mà bà con mọi người cùng chung bái lạy. Còn Chúa ở nhà thì chỉ lạy riêng, ít người.

Những người có đạo tin tưởng nơi Thánh Tâm Chúa là chuyện thông thường, dễ hiểu, vậy mà cũng có người không biết Chúa là ai nhưng rất mực tin tưởng vào sự phù hộ của "tượng Thánh Tâm." Đó là hai nhân vật đặc biệt ở xứ tôi.

***

Hồi đó ở xứ tôi ai mà không biết hai ông "tướng" này. Nói gì nói, chớ đây là hai nhân vật quan trọng, cả xứ suốt năm ai cũng nhờ hai ông. Hai ông là thợ điện. Một ông là thợ chánh, một ông là thợ phụ. Ông thợ chánh thì lo sửa, mắc dây, gắn bóng đèn. Ông thợ phụ thì lo khiêng thang, xách đồ nghề, sai gì làm nấy. Khi làm việc, ông thợ chánh thì leo đứng trên thang. Ông thợ phụ thì đứng ở dưới vịn thang. Không biết hai ông này có bằng cấp gì, hay học ở đâu ra mà người ta cho làm về nghề điện. Nói là thợ điện nhưng công việc thường xuyên của hai ông thợ điện này là lo thay các bóng đèn.

Bởi điện là một "thứ" hữu ích cho mọi người, mà lại quan trọng nữa. Điện đem lại ánh sáng những khi tối trời, nhưng lại là thứ có thể làm chết người nếu vô ý. Vì sợ khi nghe nói về điện như vậy nên ít ai dám rờ vào điện và cũng vì vậy mà khi nhà ai có trục trặc về điện như đèn không cháy, để bảo đảm, người ta kêu. Hai ông tới: đèn cháy sáng trở lại. Hai ông làm ăn tiền nhà nước, nhưng khi làm xong và được việc, bà con người ta cũng có thói quen "thưởng." Lương chẳng có được bao nhiêu, vậy chớ làm đâu mà có được chút "lì xì" là hai ông "vui" ngay chiều ngày đó.

Hai ông đi khắp nơi trong tỉnh. Nhà ai có xài điện mà có trục trặc là có hai ông tới. Do vậy, hai ông cũng có dịp để tới nhà thờ. Như lần đó, đèn nhà thờ sao có chỗ cháy, chỗ không. Mà rờ tới điện thì ai cũng sợ nó ... vô tình. Mấy người đàn ông lo làm hoài mà không được. Theo lời đề nghị, cha cho mời hai ông tới. Đi sửa điện ở nhà người ta thì quen rồi, cũng như đi vô nhà "mình" vậy thôi, tới nơi chỉ việc kêu cửa chủ nhà rồi vác thang đi vô. Đi "mò" đường dây điện, thử cái bóng đèn, công việc dễ dàng nên hai ông gần như đánh đâu thắng đó. Thời gian đó, nhà nào có xài điện thì cũng chỉ có mấy cái bóng điện tròn, đèn ống dài thì chưa có, bàn ủi điện cũng không, còn những chuyện như radio, hay Tivilàm gì mà có như ngày nay nên hai ông "giúp đỡ" được nhiều người. Nhờ vậy đi đâu, hai ông cũng được bà con quý mến, dù cho co nghèo.

Quen công việc rồi nhưng đi tới nhà thờ, ông Bảy Hạnh đang vác thang đi, quay qua nói với ông thợ điện:

- Chèn, nhà này to quá chú thợ!

- Nhà thờ mà không to chớ nhà gì to?

- Bị hồi đó giờ tui có tới đây lần nào đâu mà biết.

Đến nhà nào để sửa điện cũng vậy, hai ông đi xem xét đôi chút. Mà "nhà" này lớn và cao quá, lại có nhiều tượng đẹp quá, hai ông ngạc nhiên thích thú đi vòng quanh một vòng ngắm nghía. Tượng nào, hai ông cũng ngừng lại một chút để ... ngó. Ông thợ tỏ ra rành rẽ:

- Ông này là ông thánh.

- Sao chú thợ biết?

- Thì ổng đứng ở dưới thấp. Ông đứng trên cao kia là ông Chúa. Lát nữa đi ngang, tui với anh phải cúi đầu lạy.

- Ừa! Mà mình đâu có đạo mà lạy?

- Anh này! Hễ gặp ông Chúa lớn là mình phải cúi đầu lạy để mà cung kính.

Mà thiệt, đi băng ngang qua nhà thờ, hai ông cúi đầu lạy, hai tay chắp lại xá! Rồi theo sự chỉ dẫn của cha sở, hai ông bắt đầu ra tay. Lần hồi, đèn các nơi trong nhà thờ đã được sửa xong, cháy lên tốt đẹp. Cha chỉ tiếp đèn nơi tượng Thánh Tâm Chúa ngay giữa nhà thờ, bên trên nhà tạm. Ông Bảy thấy hết hồn:

- Ý chèn, cao quá, thang của mình lên đâu có tới chú thợ!

Ông thợ đèn ngó lên tượng, cũng biểu đồng tình:

- Ừa! Cao quá!

Cha cười và kêu chú từ dắt hai ông thợ đi vòng đường ra sau phòng thánh, khỏi cần phải vác thang theo. Lên tới nơi, chú từ kéo tấm ván che bên sau tượng. Hai ông "lú" ra, ở hai bên tượng, chấp tay ... vái. Thoạt nhìn, người ta tưởng như "hai thiên thần" đang chầu Chúa. Xong bước trở vô, lần mò các đường dây điện. Hai ông đi tới đi lui, vòng qua vòng lại, rồi thử tới thử lui cho tới khi mọi việc xong xuôi: đènchỗ nào bị "hư" đều cháy trở lại đàng hoàng.

Cha sở được báo để tới xem kết quả. Cha sở biết điều, chơi "điệu" với hai ông. Hai ông vui vẻ nhận, cúi đầu cám ơn. Trước khi đưa ra khỏi nhà thờ, hai ông lại tỏ ra rất cung kính quỳ xuống lạy tượng Chúa, rồi vác thang, xách "bị đồ nghề" ra về.

Rồi sau ngày đó, hai ông thường trở lại nhà thờ, nhưng thường là sau giờ làm việc. Nhưng sau giờ làm việc, nhà thờ đâu có mở cửa nên hai ông đứng bên ngoài, trước nhà thờ. Mà hai ông cũng hay, hai ông biết nhắm hướng. Hai ông đứng nhìn thẳng vô hướng bàn thờ chánh, rồi chắp tay xá, không biết vái cái gì mà miệng thì nhép nhép.

***

Thời xưa đó, nhà thờ có ảnh hưởng đặc biệt đối với người dân. Đi xa về, xe còn hơi xa thành phố, thấy tháp nhà thờ, biết là sắp đến nơi, lo sữa soạn hành lý. Sáng sớm, chuông nhà thờ đổ "kêu" thức dậy. Trưa lại, tiếng chuông "truyền tin" cho biết tới giờ ngọ. Tin được truyền đi bằng tiếng chuông nhà thờ. Tiếng chuông nghe như vang rền: có lễ lớn.

Nhưng hôm đó, tiếng chuông nghe sao buồn lạ buồn lùng. Tiếng chuông trầm báo tin có người chết. Nhưng là ai? Nghe 7 tiếng: một người đàn ông qua đời. Nhưng là ai?

Chết mà có gì đâu để làm cho người ta ngạc nhiên? Chết tuy không phải là chuyện thường xảy ra trong một tỉnh nhỏ, nhưng tin một người chết cũng là chuyện bình thường. Người ta lần mò rồi biết được tin lần này là ai: ông Bảy Hạnh!

Tin ông Bảy Hạnh chết mà lại có giựt chuông làm cho người ta thấy ngạc nhiên. Ông này đạo hạnh gì mà chết lại có đổ chuông? Có chớ, đó là điều không mấy ai ngờ, không mấy ai biết được.

Ngày đưa đám ông Bảy Hạnh, hai vợ chồng ông thợ đèn có đi, dĩ nhiên rồi. Hai ông đã thề "sống chết có nhau mà!" Thề là thề như vậy vì chết có nhau có nghĩa là anh chết thì tôi đi đưa đám anh, đưa anh ra tới huyệt, chớ còn cùng chết thì ... bỏ qua chuyện đó đi. Ông Bảy Hạnh không vợ không con nên ông thợ đèn xin được là người đại diện cho gia đình. Ông đi trước đầu hòm, tay ôm cây thánh giá sẽ được đặt ở đầu mã. Chuyện này không làm cho người ta cảm động, mà làm cho người ta ... cười. Có người nói: ma men cũng biết cầm thánh giá.

Chôn cất xong xuôi, người ta xúm lại hỏi chuyện ông thợ đèn thì mới biết: ông Bảy Hạnh đau nặng hơn tuần nay, không đi làm được. Ông thợ đèn tới thăm hằng ngày, ông buôn ông khóc. Ông nói ông sợ chết không ai chôn. Ông thợ đèn an ủi: đâu anh cầu xin ông Chúa ở nhà thờ đi! Ông gật đầu. Ông yếu nhiều đi, ông chủ nhà nơi ông ở đậu đưa ông vô nhà thường. Bà phước làm ở nhà thường, tên Thérèse, nhận liền. Tại đây, bà lo cho ông phần xác cả phần hồn. Bà hỏi ông có tin ở Chúa không? Ông nói có. Bà hỏi ông Chúa ở đâu? Ông đưa tay chỉ về phía nhà thờ. Bà đưa cho ông coi mấy bức ảnh đạo, rồi hỏi ông có biết ai là Chúa không. Ông cười, chỉ ngay ảnh Trái Tim Chúa. Bà đưa cho ông bức ảnh. Ông ôm vào ngực cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Ông chết, chuyện tống táng do nhà thờ đứng ra lo. Ông chết có mồ có mã, đúng như lòng ông ao ước. Ông đạt được ý nguyện đúng như câu kinh:

Trái Tim Đức Chúa Giêsu hay ở rộng rãi cùng những kẻ nguyện xin.