Ăn chay không nỗi

Tết dương lịch 2010, tin từ bên nhà cho hay là ông vừa qua đời, ngay hôm sau ngày lễ Giáng Sinh. Như vậy là ông mất hôm 26 tháng 12 năm 2009. Đọc xong cho ông ba kinh, tôi ngồi tôi nhớ tới ông, nhớ tới chuyện hồi xưa.

Ai cũng kêu ông là ông thì cũng phải vì hôm trước lễ Giáng Sinh, về thăm quê nhà, tôi có gặp ông, hỏi năm nay ông được bao nhiêu rồi thì ông nói: đít nớp trăng xanh (1935), như vậy là ông đã 74 tuổi rồi nên thiên hạ gọi ông bằng ông thì cũng phải. Còn tôi, tôi nhỏ hơn ông có mấy tuổi nên với ông, tôi là anh em. Hơn nữa, những khi “ra vô qua lại” mà kêu bằng ông thì còn đâu là tình nghĩa nữa. Kêu nhau là “anh tôi” thì nó lại còn phù hợp với cách nói “chén anh chén tôi” những khi gặp gỡ riêng nhau, để rồi sau đó cứ đều đều mà sánh vai nhau tiến tới, cho tới khi thấy đất rung rinh dưới chân mình thì cặp kè nhau về.

Ông bà mình xưa có câu nói cũng hay lắm: ai mà khôn cho bằng mấy thằng say rượu. Gẫm ra thấy đúng! Mỗi lần đi về nhà như vậy, tụi tôi đi băng ngang qua sân nhà thờ, đường sẽ ngắn lại nhiều. Mà nhà thờ có hai bên hông, phía hông bên trái thì có núi Đức Mẹ, phía hông bên phải thì có “nhà cha.” Mà nếu đi ngang nhà cha, cha mà thấy, cha sẽ kêu vô để “thủ thỉ, tâm sự”, tụi tôi không thích. Cho nên mỗi lần đi về như vậy là tự nhiên “ma men” dẫn đường đưa lối cho tụi tôi đi phía bên núi Đức Mẹ.

Mặt mày thì hơi đỏ đỏ như nghệ sĩ cải lương sắm tuồng Quan Công, đi thì chân đá qua đá lại như người ta nhảy “tango”, vậy mà mỗi lần đến bên hông núi Đức Mẹ, anh níu tôi đứng lại. Anh bỏ tay quàng cổ tôi ra. Sữa bộ lại cho ngay ngắn, anh làm dấu, đọc kinh. Đứng xa xa mà nhìn thì chắc là người ta sẽ nói: có hai ông thánh sống đang đứng đọc kinh. Nhưng mà thấy hai bóng người cứ ngả tới ngả lui thì có người ta lại nói: quỉ mà cũng đọc kinh Đức Mẹ…

***

Hơn cách nhau có mấy tuổi thì cũng dễ bề kết bạn, lại thêm một điều là anh ta với tôi là hai “thằng” tu ra, anh thì là dòng Lasan, còn tôi thì nhà trường la-tinh. Tu đâu tu, cũng là dân tu ra, nhưng được cái điều là không biết có phải là do “ma men” dạy dỗ hay sao mà có ít nhất cũng là mười lần, hai đứa tỏ ra tâm đầu ý hợp ở chỗ là: mình tu không thành nhưng không phải là hết chuyện, mình không “bỏ cuộc”, mình tiếp tục phục vụ “nhà thờ” theo phương cách của mình, trong cương vị của mình, để “trả ơn nhà chung.”

Sau khi tu ra, gia đình khá giả, anh được gởi qua Pháp du học. Trở về, với mảnh bằng kỷ sư điện, anh làm kỷ sư. Gia đình dọn về Sài Gòn ở, rồi anh lập gia đình với người trong họ, nên người ta nói là mọc rễ ở đây. Tuy có gia đình, anh thường tham gia việc trong họ đạo. Những khi rảnh rỗi mà mình tham gia việc nhà thờ, nhiều điều thú vị! Bởi vậy anh nói ai nghe cũng hoan nghênh: mình là người có đạo, đi nhà thờ nhà thánh là một việc, còn việc sữa sang, săn sóc nhà Chúa là việc khác mà mình không thể thiếu sót được. Mình lo việc nhà thờ là lo việc nhà Chúa, làm cho Chúa. Mình lại có dịp gặp gỡ nhau, làm nói, nói cười. Cho nên, những khi nhà thờ có làm công tác gì là có anh đến.

Thời đó, cha sở họ tôi cũng tinh tế lắm. Ngoài các hội đoàn đã có “tự ngàn xưa”, cha ra công qui tụ anh em bà con lại để làm công tác nhà thờ bởi vì không có cái ban, cái hội đoàn nào mà lo làm các việc này. Hồi đó thì mình còn có quới chức, nhưng quới chức thì có công việc của quới chức, chuyện trong họ còn biết bao nhiêu việc, trường kỳ có, ngắn kỳ có. Những chuyện như dạy giáo lý, lo cho các em xưng tội rước lễ, bao đồng, thêm sức hay dạy giáo lý cho “chầu nhưng” tôi xem là chuyện “lớn lao”. Những chuyện thường xuyên như quét dọn nhà là chuyện mà ai cũng có thể tham gia, miễn là có giờ, miễn là còn sức.

Hằng tuần thì có việc quét nhà thờ, lau bụi bàn ghế quì của bổn đạo: dễ vì nó ở dưới thấp. Học trò dưới sự điều động của mấy dì phước lo việc này, có vài ba người lớn đi theo để khiêng, nhấc giùm các em các bàn ghế nặng, nhấc lên để các em dễ quét. Hơi nặng hơn là quét bụi, gián nhện các bàn thờ gồm có bàn thờ giữa, và hai bàn thờ Đức Mẹ và thánh Giuse ở hai bên. Gọi là nặng vì phải leo cao, mà quí “bà con con nít” thì không ai dám giao cho công việc này. Khi cha kêu gọi, hội họp để phân chia công tác, anh tham gia và “giành” lo núi Đức Mẹ.

Anh không làm một mình. Ai muốn tham gia, anh hoan nghênh và mời vô. Anh nói: đông người nhiều tay, khỏe. Ai có ý kiến, anh nghe, nên nhiều người thích anh, nhưng không phải là tất cả. Được cái điều là từ ngày anh nhận trách nhiệm lo núi Đức Mẹ, núi đẹp ra, sạch hơn trước. Nói gì nói, từ sau khi được cha giao phó cho công tác săn sóc núi Đức Mẹ, người ta nói: bây giờ ở họ đạo mình có “ông từ” núi Đức Mẹ. Xưa nay, họ đạo nào cũng có từ nhà thờ thôi, chớ ở họ tôi lại có thêm từ núi Đức Mẹ.

“Thằng cha này” khôn, vì làm ngoài núi Đức Mẹ thì giờ giấc uyển chuyển hơn, nhà thờ đóng cửa thì anh cũng làm được. Hơn nữa bên trong nhà thờ thì mình phải “đàng hoàng”, chớ nếu mà “hơi có mùi” thì coi kỳ lắm. Đi làm về, anh làm sơ một hai ly cho thấm giọng rồi là anh đi tới nhà thờ. Như thông lệ, bước vô khu núi Đức Mẹ rồi là anh lo đọc kinh cái đả, xong dòm trước ngó sau rồi bắt tay vào việc: quét lá cây, sắp đặt lại các băng ghế, thay các cây đèn cầy ở núi Đức Mẹ. Khi đã “hiểu” nhau sau vài ly rồi, anh giảng giải: tại sao với người đời, mình biết lo đền ơn đáp nghĩa, mà với Đức Mẹ, với Chúa mình quên phải không chú? Tôi hưởng ứng ngay: ừa! Thì ra, theo anh tâm sự, đây là chuyện nghĩa ân:

“Tui làm ở đây một là vì lòng kính mến Đức Mẹ đã có ngàn đời trong gia đình tui, hai là vì trong thời gian ở Pháp, Đức Mẹ thiệt là mẹ tôi. Hôm nào trời lạnh quá thì thôi chớ còn những ngày khác thì tui thường xuyên đi đến núi Đức Mẹ ở họ đạo tôi ở. Bạn bè thì chưa có, mà bà con thì không. Xa nhà, xa cha xa mẹ, mà lại gặp cái xứ lạnh nữa, nên mỗi khi buồn mà rảnh rổi, tui thường đi đến nhà thờ, rồi ra ngồi ngoài núi Đức Mẹ, ngồi yên một mình, nhớ nhà, đọc kinh. Mỗi lần như vậy, tự nhiên thấy nó nguôi ngoa, nỗi buồn như vơi đi. Tui có được nguồn an ủi vô biên nơi Đức Mẹ. Có năm, hè tui đi xuống Lộ Đức ở đó luôn 2 tuần, ngày nào tui cũng tới chỗ Đức Mẹ tui làm công tác, quét dọn, giúp đỡ người bệnh hoạn tới cầu xin cùng Đức Mẹ.” Có người hỏi vậy chớ trong 2 tuần như vậy anh có nhậu không? Anh la liền:

- Trời ơi! Giởn! Đi làm việc Đức Mẹ mà nhậu cái gì!

***

Mùa chay nào cũng vậy, ngoài việc tổ chức cấm phòng, họ đạo tôi dưới sự dạy dỗ hướng dẫn của cha sở, các hội đoàn chia nhau đi thăm các gia đình. Thấy cha và đông đảo người đi ngang nhà, anh ra mời vô. Chủ khách phân chia ngôi thứ rồi, anh bắt đầu nói. Anh nói nhiều hơn những người có bổn phận phải nói. Có người đổ thừa là tại “rượu vào lời ra” nên anh nói nhiều. Không phải, phải nói rõ là tại vì anh biết nhiều. Trong nhà, anh có xây một núi Đức Mẹ nhỏ, ai nhìn thấy cũng trầm trồ khen. Bởi vậy, anh phải nói, nói (theo anh) cho bà con biết thêm về Đức Mẹ. Anh khoe: núi Đức Mẹ này mới giống nhiều cái nơi mà Đức Mẹ đã hiện ra ở Lộ Đức. Nói như vậy có nghĩa là anh đã đến Lộ Đức. Rồi anh tả, anh kể, anh đem hình ảnh của hang Massabielle nơi Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Bernadette cho bà con coi. Ai cũng thích nghe, ai cũng thích được thấy những hình ảnh đó.

Thấy anh vui, bà con vui, hồi nảy giờ nhìn thấy anh uống và cũng có nghe bà con nói về anh, cha sở cũng vui miệng:

- Mà tôi có cái đề nghị này nghe ông René! Nay sẵn mùa chay, tôi đề nghị ông bỏ bớt rượu!

- Dạ, mà cái gì cũng được, chớ bỏ rượu thì khó quá cha ơi!

- Có gì đâu mà khó! Nếu như hồi đó ông uống mỗi ngày thì bây giờ hai ba ngày ông uống một lần. Hồi đó mỗi lần uống hai ba ly thì bây giờ uống một ly thôi mà là ly nhỏ…

- Dạ kiểu đó chắc là con ăn chay không nỗi!

Anh quay qua phân trần với tôi: mà uống rượu đâu có tội phải không chú? Khổ quá, biết nói làm sao bây giờ bởi tôi cũng cùng môn phái với anh, nên không dám nói lớn, tôi nhỏ nhẻ trả lời: Ừa!

Có cái điều là từ ngày anh được giao công tác săn sóc núi Đức Mẹ, chưa bao giờ anh bỏ bê công tác. Khi nào mà phải đi công tác xa, biết trước, anh nhờ người này người nọ lo thay anh. Anh nói: Ở đây người ta tới đọc kinh Đức Mẹ hoài, mình phải làm sao cho núi Đức Mẹ luôn luôn được tươm tất. Người ta khen anh làm việc đều đặn. Anh “giảng” liền: hồi còn ở bên Tây, tui cũng đã từng làm việc này.

***

Lần này về thăm lại quê hương sau 19 năm xa cách, viếng Chúa trong nhà thờ xong, tôi ra ngoài núi Đức Mẹ. Có một người đang lui cui dọn dẹp, vừa mới nhìn thấy, tôi biết được ngay là anh. Tôi kêu. Anh quay lại, mặt lộ vẻ ngạc nhiên, miệng la: “Oh! mon cher ami!” rồi anh chạy tới ôm tôi. Gặp lại tôi, anh mừng lắm bởi tôi thấy nước mắt anh chảy ra. Đã nhiều lần anh đã nói: ở đời đâu dễ gì gặp được người tri kỷ!

Núi Đức Mẹ còn đây. Đức Mẹ còn đây. Người mến mộ và tri ơn Đức Mẹ cũng còn đây. Tôi mừng gặp lại anh, người biết tri ơn đời mà không quên nhớ ơn trời! Anh mất đi, đấng đã là nguồn an ủi và hộ giúp anh, chắc sẽ không quên anh.