Ánh mặt trời

Thật tình mà nói, tôi không phải là người trồng trỉa rành nghề, nhưng cũng có trồng chút đỉnh ở miếng đất nhỏ sau nhà. Nếu đi không nhanh thì cũng phải mất khoảng 30 giây hay 1 phút để đi giáp vòng miếng đất. Vậy chớ tôi cũng đã có trồng vài chục cây mảng cầu, và vài thứ cây khác như ớt, chanh, rau thơm. Đặc biệt có cây khế là làm cho tôi hãnh diện và thắc mắc. Hãnh diện vì năm nào tôi cũng có đem cho anh em bạn bè mỗi người năm bảy trái ăn lấy thảo, vì là loại khế ngon ngọt đặc biệt.

Thắc mắc là vì mùa nào cũng vậy, quan sát tôi thấy thắc mắc. Cây khế có hai bên, một bên có nhiều trái, còn bên kia thì ít hơn hay có năm gần như không có. Hai bên của cây khế, một bên hướng về hướng đông, là hướng mặt trời mọc, dĩ nhiên bên kia là bên hướng về phía mặt trời lặn, hay nói cách khác là hướng nhận ánh mặt trời chiều.

Khổ nỗi là khi trời về chiều, ánh nắng mặt trời bị che bởi ngôi nhà lầu cao nên cây không nhận được ánh sáng. Có phải vậy chăng? Tôi thắc mắc: có phải vì không nhận được ánh mặt trời mà nó cho ít trái?

Mặt trời thì khỏi nói rồi, ai cũng biết, mặt trời đem lại ánh sáng tự nhiên cho con người.

Đó là nguồn ánh sáng để soi lối, dẫn đường. Sau tiếng gà gáy, ánh mặt trời còn là phương tiện đánh dấu thời gian: bắt đầu có ánh mặt trời là bắt đầu một ngày mới lo đi làm, khi ánh mặt trời chiếu thẳng ngay xuống đỉnh đầu thì biết đó là giữa trưa: nghỉ đê lấy lại sức rồi còn tiếp tục, và khi hết ánh mặt trời là ngày hết, được nghỉ ngơi.

Ánh mặt trời là nguồn nhiệt: sưởi ấm trong những ngày tháng mùa đông giá lạnh, giúp người ta phơi khô áo quần, thực phẩm.

Ánh mặt trời còn có tác dụng làm biến đổi: nó có tác dụng phóng xạ, và quen thuộc nhất là tác dụng quang hợp đối với thực vật…

***

Ông là một sĩ quan trong quân đội cũ của miền nam, cho nên như bao nhiêu sĩ quan khác, ông bị gọi đi “học tập cải tạo”. Đó là thời gian mà những người như ông phải làm việc khổ nhọc, không có được tự do. Đó chính là thời gian chia vui sẻ buồn và cũng là thời gian học hỏi lẫn nhau. Người biết làm nghề mộc, dạy anh em khác đục đẽo, cưa đóng. Người biết nghề làm tương chau dạy anh em khác làm tương chau để ăn, và mai sau khi được trở về có được cái nghề. Người biết nghề hớt tóc thì dạy anh em nghề “làm đẹp” đầu người khác.

Còn ông, ông đã không học một nghề mà lại thích nhìn anh em khác học, và sẵn sàng “đưa đầu” ra cho anh em thực tập. Nếu không thì ông đứng bên ngoài cùng với anh em khác bàn tán, chỉ chỏ, chuyện trò. Trong câu chuyện, một vài người bạn “tù” đã làm cho ông phải suy nghĩ nhiều, đã gieo trong đầu óc ông một hình ảnh. Ông không phải là người vô tín ngưỡng, không tin ở “thần thánh”. Ông là người có đạo. Ông đã có một đạo, nhưng hình ảnh của một “đấng từ nhân” đã từ từ làm cho ông ngưỡng mộ rất nhiều.

Những anh bạn, những người đã “giới thiệu” vị này với ông đã có những việc làm khiến cho ông càng muốn biết thêm. Trong khi phần đông anh em đều thay đổi sắc diện thì “mấy người này” có vẻ như … bình thường, bình yên, không thấy lộ vẻ u buồn. Ông đã bắt gặp, nhiều buổi chiều sau giờ lao động và cơm nước, nhóm anh em này lặng lẽ chuyện trò với nhau một cách êm đềm. Có lần ông nhìn thấy anh em đó “nói chuyện” với nhau mà không phát ra tiếng, chỉ thấy miệng nhép nhép? Sau này biết được ông biết là họ đang cùng nhau đọc kinh. Đọc kinh với ai? Với Đức Mẹ! Đức Mẹ là ai? Có dịp hỏi thăm, ông đã được anh em giảng giải cho biết Đức Mẹ là ai! Họ đã cho ông thấy Đức Mẹ là nguồn an ủi. Từ từ làm quen thêm, ông được anh em cho biết thêm nhiều điều khác.

Điều mà ông học được trong suốt thời gian học tập cải tạo là những tư tưởng xoay hướng cho cuộc đời của ông. Ông cảm thấy đó là những tia sáng mới soi lối cho ông đi trên con đường còn lại trong cuộc đời. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông quyết định đi tìm nguồn sáng đó khi có thể, khi ra khỏi “chỗ” này mà ông hy vọng là ông sẽ có được chút tự do để đi tìm. Ngày về đó, biết lúc nào, bây giờ ông thấy mình có niềm vui khi nghe nói để tìm hiểu. Ông đâm ra tin tưởng vào Đức Mẹ, về cái ngày về tưởng chừng còn xa vời đó.

Thỉnh thoảng vợ ông với bao nhiêu khó khăn đến thăm ông một lần. Quà bánh biết bao nhiêu mà đủ bao nhiêu mà thiếu, chia chác với anh em một vài ngày là xong, ông nhắn vợ đem cho ông món quà mà ông tin là sẽ còn ở mãi với ông. Ông nói đùa với anh em bạn: nếu mà tôi phải “ở” lại mãi ở đây, xin cho tôi được đem theo vật quý này. Đó là xâu chuỗi lần.

***

Rồi cũng như những người bạn khác mà ông thèm khát được như họ, ông được cho ra về để sống cuộc sống người dân. Biết được “địa chỉ” của nhà nơi vợ con ông đang ở, được “thả xuống” ở thành phố, nhà thì ở xa, ông lần mò về nhà thờ Đức Bà gần đó, lấy balô làm vật gối đầu, ông qua đêm một cách bình an…

Rồi ông cũng tìm được đường về tới nhà, sum họp với gia đình, ông có trước mắt bao nhiêu việc phải làm để lo cho vợ con. Lo về vật chất cho gia đình, ông sẵn sàng với sức khoẻ còn lại, và ông cảm thấy đó là bổn phận. Chuyển sang chế độ “mới”, với thân phận người “tù học tập cải tạo” được trả tự do, ông chỉ có thể làm ăn sinh sống với nghề bằng tay chân, mà nghề đơn giản nhất là đạp xích lô.

Với số phận người của chế độ cũ, ông trở về không còn nhà cửa ở thành phố. Vợ con ông đã phải rời xa thành phố về sống nơi “bùn lầy nước đọng”. Dân chúng ở đây chuyên đi bộ, với cái cày cái cuốc trên vai, thì xích lô của ông là vật vô dụng, họ không cần đến. Muốn dùng nó để làm ra tiền, ông phải trở về thành phố mới mong có người cần đến. Và cứ như vậy, mỗi ngày ông phải đạp xe đi rồi đạp xe về tổng cộng cũng phải gần 70 kilômét, “miễn phí”: không mất tiền mà cũng không thu được tiền. Từ khu gia đình ông ở, muốn đi về thành phố, ông cứ nhắm về hướng mặt trời mọc. Đó là hướng đông. Buổi sáng ông đi, mặt trời chưa lên hẳn, ánh sáng còn lờ mờ. Bận trở về, ông cứ nhắm về hướng mặt trời lặn. Đó là hường tây. Ánh sáng còn lờ mờ, mặt trời chưa lặn hẳn. Ông suy nghĩ rồi mỉm cười một mình, đi đâu cũng không khỏi mặt trời, dù rằng lúc nào ông cũng không thấy được ánh mặt trời trọn vẹn.

Đường đi và về mỗi ngày dài thăm thẳm, để tự thêm sức cho mình, ông vừa đạp vừa lần chuỗi, đọc kinh.

Để bắt đầu phục vụ khách kiếm tiền “đúng giờ”, ông phải rời nhà từ lúc tờ mờ tinh sương, lúc gà còn chưa gáy, và con ông chưa có đứa nào thức dậy, để làm cuộc “đua xích lô” một mình về thành phố để kiếm tiền. Nhờ có sức khoẻ và tính tính vui tươi, ông có nhiều khách hàng, và giữ được khách hàng. Ông luôn có mặt để đưa khách và hàng đến chợ “đúng giờ” khiến khách hàng của ông rất hài lòng. Được cảm tình của những “mối” quen, ông làm việc “liền tay”, đến trưa khi họ xong việc ra về thì ông cũng rảnh tay. Ông đảo về trong thành phố để kiếm thêm khách, và luôn tiện đi đến những nơi ông muốn đến.

Dọc hai bên đường đi và về, ông thỉnh thoảng g ặp một nhà thờ mà ông quyết định phải tìm đến một lần để xin theo đạo. Ông chọn nhà thờ gần nhà nhất. Vào gặp cha, cha đã phải ngạc nhiên về sự hiểu biết về đạo của ông. Cha đã nói:
- Phần ông thì kể như được rồi, tôi đề nghị ông dạy lại cho vợ con ông, rồi tôi sẽ kiểm tra lại!

***

Rồi cũng như số đông những người học tập trở về, ông cùng gia đình được ra đi đến miền đất lạ. Nói nghe dễ chớ chuyện giấy tờ cũng lắm gian truân, nhưng rồi tất cả cũng đều trôi qua êm xuôi. Ông đã được đặt chân lên miền đất lạ. Hai con còn nhỏ, ông cũng phải vui vẻ ra sức làm việc để lo cho gia đình và chuyện ăn học của hai đứa con. Vất vả cũng còn nhưng nhẹ nhàng hơn trước kia. Cuộc sống vật chất thoải mái hơn. Cuộc sống tinh thần đầy đủ hơn. Nhà thờ đâu có gần nhưng muốn đi là đi được. Nhớ hồi còn ở quê nhà, mỗi lần đi nhà thờ, “cơm ghe bè bạn” vợ con chất lên xe xích lô rồi ông đạp đi đến nhà thờ. Bây giờ ở đây, mỗi lần muốn đi nhà thờ, ông lái xe đưa vợ đi, còn hai đứa con thì chúng nó tự lái xe đi riêng. Ông dặn dò:

- Tụi con muốn đi riêng thì đi, nhưng phải nhớ là có đi nhà thờ nghe!

Không thể đọc kinh vào buổi sáng được vì phải lo đi làm, chiều về ông đọc kinh chung với vợ và hai con. Tiếp tục hai mươi năm làm việc để lo cho gia đình, ông được nhiều tưởng thưởng bởi ơn trên, vì ông tin là như vậy. Ông có được ngôi nhà và hai con ông thành danh, đó là những điều làm ông toại nguyện. Đạt được ý nguyện, ông lại càng tin tưởng thêm vào Đức Mẹ, kẹt một điều là Đức Mẹ làm mà Đức Mẹ nào có nói cho biết đâu, nhưng ông thì một lòng tin tưởng.

Còn mong ước gì hơn khi ông đến tuổi về hưu, ông nghĩ đến việc an dưỡng tuổi già, để có lúc nghỉ ngơi và phục vụ. Ông tìm đến nhà thờ để chăm sóc cây kiểng, một việc làm quá ư nhẹ nhàng, không bị bó buộc nhưng ông tự định cho ông giờ giấc để việc làm của ông không ảnh hưởng đến việc thờ phượng của người khác. Tưới nước thì có nước máy có nặng nhọc gì đâu, nhổ ít cây cỏ dại thì cũng nhẹ nhàng, tay làm thì miệng cũng phải làm theo: ông vừa làm vừa đọc kinh, thật là thuận lợi. Ông dạy con ông: cơm ăn, nhà cửa bố có đầy đủ hết rồi, giờ bố lại lo chuyện ra đi.

Và bây giờ ông lại ra đi, trả hết lại cho đời. Ông chết nằm đó, xâu chuỗi lần được quàng qua tay ông tuy là theo thông lệ, nhưng với ông nhiều người thấy có cái gì khác thường. Khi còn sống, ông đã tin tưởng vào Đức Mẹ, nay ông chết, xin Đức Mẹ luôn vẫn là ánh sáng soi đường, dẫn lối cho ông về đến bến bình an.

Những điều về ông, trong đám tang của ông, chúng tôi nghe con ông kể lại. Cuộc đời của ông quả như là một bài giảng thâm sâu về Đức Mẹ. Đức Mẹ là ngọn đuốc soi đường, là nguồn sưởi ấm, là động cơ tác động thay đổi con người. Đức Mẹ là nguồn ánh sáng, là vần thái dương. Hãy tìm đến Đức Mẹ để được dẫn đường, để được an ủi, để được uốn nắn, sữa đổi, bởi Đức Mẹ là … mẹ.