Ba Lần Đến Đây

Đây là nhà thờ. Tôi đến nhà thờ, đâu phải chỉ ba lần thôi trong đời. Hằng năm, tôi đã đến nhà thờ không biết bao nhiêu lần. Hằng tuần, tôi đến nhà thờ ít ra là một lần, và trong hơn 60 năm. Trong tất cả những lần tôi đến đây, tôi cảm thấy ba lần đó đối với tôi vô cùng quan trọng. Ba lần đó, tôi là người quan trọng. Tôi là vai chánh. Ai cũng nhìn ngó tôi, ai cũng chú ý đến tôi, cho dù rằng tôi có biết hay không biết. Đó là ba lần quan trọng nhất khi tôi đến nhà thờ: một lần tôi đến mà tôi không biết, một lần tôi đến với tất cả ngại ngùng, một lần đến tôi không còn biết gì nữa.

Lần đầu tôi đến

Hôm đó, tôi “nhớ lại”, không, tôi nghe má tôi kể lại: một ngày tháng 12, trời lạnh. Hôm đó, tôi được ba ngày tuổi. Sáng sớm, ba tôi lo ẳm tôi đi lên nhà thờ. Má tôi, vì mới vừa sanh tôi, không đi được. Có ông bà nội, ông bà ngoại, hai người cậu, ba anh tôi và người “bỏ” đỡ đầu. Lễ sáng xong, cha sở lo rửa tội cho tôi. Bà con đi lễ sáng cũng có nhiều người quen biết ba má tôi ở lại dự lễ rửa tội của tôi. Trời tháng 12 lạnh, cha dội nước lên đầu tôi. Giật mình, tôi khóc thé lên. Nghe tôi khóc, người ta cười.

Nghi thức rửa tội xong, cha sở hướng dẫn mọi người đem tôi qua bàn thờ Đức Mẹ, để dâng tôi cho Đức Mẹ. Kể từ hôm đó, tôi trở thành con Thiên Chúa. Và cũng kể từ ngày hôm đó, tôi có Đức Mẹ là mẹ tôi: một nguồn an ủi, một nơi nương tựa, một nguồn cậy trông.

Kể từ ngày đó, ba má tôi có thêm gánh nặng, có thêm công việc, có thêm trách nhiệm. Kể từ ngày đó, nhiều người có trách nhiệm đối với tôi. Ở nhà, ba má tôi lo nhắc nhở tôi đọc kinh hôm kinh mai hằng ngày, nhắc nhở tôi đi lễ mỗi sáng, và dĩ nhiên là ngày Chúa nhật và các ngày lễ cả, chiều thứ bảy đi làm việc Đức Mẹ, chiều Chúa nhật đi xem phép lành. Cha sở và các bà phước phải lo dạy tôi giáo lý, để tôi biết được lẻ đạo, biết giữ đạo sao cho phải đạo. “Sách phần” thì bà phước dạy, ở trường. Chiều Chúa nhật, trước phép lành, cha sở dạy thêm. Lâu lâu chừng hai tuần thì bà phước lùa hết lên nhà thờ trưa ngày thứ bảy để đi xưng tội.

Kể từ ngày đó, tôi cũng có phần trách nhiệm đối với tôi. Kể từ ngày đó tôi có nhiều công việc phải làm, có nhiều điều phải học. Tôi phải lo chu toàn những trách nhiệm của tôi. Giấy rửa tội chỉ là giấy chứng nhận rằng tôi là con dân nước Trời. Trước hơn hết là tôi phải lo học để làm sao làm được dấu Thánh Giá, vì đó là dấu chỉ của người Công Giáo. Đó là dấu chỉ rằng tôi là người có đạo. Tôi còn phải biết đọc kinh nữa chớ. Tôi phải lo học kinh, để khi đến nhà thờ cũng như khi ở nhà, khi mọi người đọc kinh, không lẻ tôi ngậm câm. Tôi phải đọc kinh, để cầu nguyện, cầu cho tôi và cầu cho người khác. Tôi phải học giáo lý do cha và các bà phước trong họ dạy, phải lo học lẻ đạo để chịu phép “Giải tội”, để được “Rước Lễ lần đần đầu”, rồi lo chịu phép “Bao đồng”, rồi phép “Thêm Sức.” Như vậy là xong hết rồi. Còn cái phép “hôn phối” thì … là cái gì? Còn một phép nữa, phép “Xức dầu” thì chừng nào, tôi và mấy bạn tôi thời đó chưa được biết phép bí tích này.

Tôi còn phải lo tham gia công việc nhà thờ như bao nhiêu đứa trẻ khác. Hằng tuần, sáng thứ bảy, tụi tôi đi theo bà phước quét nhà thờ, lo chưng bông lễ ngày Chúa nhật. Còn một việc mà tôi thích lắm đó là làm học trò giúp lễ. Đây là một việc khó mà không phải đứa nào cũng có thể làm được, đó là học thưa kinh bằng tiếng la tinh. Amen thì dễ rồi, nhưng dài hơn một chút như “Et cum spiritu tuo” vậy mà nhiều đứa học hoài không thuộc thì còn nói gì kinh cáo mình Confiteor …Nhiều đứa chỉ được hầu đèn. Ban đầu thì tôi cũng làm hầu đèn nhưng sau khi trả thuộc hết các kinh, bà phước cho tôi làm học trò giúp lễ! Tôi đã làm hết các nhiệm vụ của một người có đạo! Mà bà phước dạy tôi hồi đó, bà Augustine, bà luôn nhắc tụi tôi đọc kinh Đức Mẹ. Chiều thứ bảy, làm việc Đức Mẹ trong nhà xong, bà dẫn tụi tôi ra trước núi Đức Mẹ. Bà còn dặn mỗi ngày đi học về, đi ngang núi, ngừng lại một chút: tụi con chỉ cần đọc một kinh Kính mừng.

Bà ơi! Hơn 60 năm rồi, má con đã chết, chắc là bà cũng đã chết rồi nhưng lời bà dạy con hồi đó bây giờ con vẫn còn nhớ: luôn luôn cầu nguyện cùng Đức Mẹ.

*♦*
Lần thứ hai tôi đến.

Theo dòng thời gian, tôi lớn lên. Tôi có công ăn việc làm. Khi đó ba tôi không còn, má tôi lại tỏ ra băn khoăn, lo lắng về tôi. Tôi nghe má tôi nói với anh tôi: nó lớn chòng ngòng cái đầu rồi, phải lo cưới vợ cho nó, nghe qua tôi thấy rùng mình. Tôi đầy đủ quá rồi. Cơm nước, má tôi lo. Đi chơi đây đó, tôi đi theo gia đình anh tôi, hay với các bạn. Tôi không muốn cuộc đời bị “trói buộc”. Rủi gặp người dữ, về nhà ăn hiếp tôi thì sao? Phản đối, dùng dằng gì rồi ngày đó cũng tới. Hôm đó, tôi nhớ hoài. Tôi ăn mặc đẹp, đẹp chưa từng thấy. Quần áo mới may thêm đôi giày mới làm cho tôi đi thấy ngượng ngịu. Tôi rán giữ tướng đi cho đàng hoàng giữa chốn “muôn người”. Tôi liếc qua bên trái: người ta ngó tôi. Liếc qua bên phải: người ta nhìn tôi. Tôi được đi như ông tỉnh trưởng vì thuở đó chỉ có ông tỉnh trưởng mới được đi ở dòng giữa như vậy. Cha sở ra tận cửa chính nhà thờ để đón tôi. Tôi với “nó” đi từ cửa chính của nhà thờ, đi vào nhà thờ, đi lên gần bàn thờ. Tôi quì trên cao mà tôi thấy người ta cứ luôn luôn ngó lưng tôi.

Lễ xong, tôi được hướng dẫn đi qua bàn thờ Đức Mẹ, để dâng gia đình mới cho Đức Mẹ. Một lần nữa, tôi phú dâng mọi việc, cuộc đời cho Đức Mẹ, xin Mẹ nâng đỡ, chở che, phù hộ tôi và gia đình mới.

Từ nay, nhiều việc được đặt ra. Tôi sẽ phải có trách nhiệm đối với vợ tôi, rồi con tôi. Tôi phải hướng dẫn vợ tôi và dạy con giữ tròn đạo Chúa. Tôi phải làm tất cả những công việc mà nhiều người khác đã làm cho tôi để tôi được nên người, một người tốt cho nước Chúa, cho xã hội. Tôi phải làm những việc đó đối với con cái tôi. Công việc nặng nề lắm đó chớ, không có ơn Đức Mẹ sao được …

*♦*

Lần thứ ba tôi đến.

Cái lần này chưa đến với tôi. Tuy là chưa, nhưng cũng như nhiều người khác, tôi biết là ngày đó thế nào rồi cũng sẽ đến, có điều là không biết được ngày nào, gần hay xa, còn có hay không thì câu trả lời dứt khoát rồi: có. Nhiều lần tôi đi theo người ta đến đây như vậy. Đó là những lần tôi đến nhà thờ để đưa tiễn những người quen biết ra đi. Do đó, tôi đã được biết. Hơn nữa, lần đó, một người bạn thân của tôi qua đời. Tôi theo từng bước việc làm của gia đình, nên biết được nhiều. “Bạn tôi” đâu mà “tôi” đâu, xin chỉ gọi ngắn gọn một chữ tôi thôi. Ngày đó, tôi nằm xuống, cả nhà khóc, rồi xúm lại lo: lo đi lên nhà thờ báo tin cho cha. Cha kêu chú từ giựt chuông: 7 tiếng chuông trầm. Rồi cả nhà lo bao nhiêu chuyện thường tình khác. Rồi bà con người ta đến nhà tôi, từng đợt, từng nhóm. Người ta đọc kinh cầu cho linh hồn tôi, xin Chúa thứ tha và đem linh hồn tôi “lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời”. Trong những kinh cầu, tôi “nghe” nhiều lần kinh Kính Mừng. Sau vài ngày, tôi lại “đi đến” nhà thờ, lần cuối. Tôi đi với người ta. Tôi không còn đi được nữa, người ta khiêng tôi. Nhiều người chưa hề biết mặt tôi nhưng nhờ tấm hình rọi lớn của tôi đặt trên đầu hòm, người ta mới biết được tôi là ai, người chết là ai…

Kể từ ngày đó, tôi hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Tôi không còn lên tiếng được nữa. Kể từ ngày đó, mọi lời van xin cùng Thiên Chúa, tôi phải nhờ những người còn lại làm giúp. Kêu cầu với Đức Mẹ, mẹ tôi, tôi cũng không còn có thể làm được nữa, xin những người còn lại làm giúp tôi. Ai có giận tôi, tôi không nói được lời xin lỗi. Tôi có giận ai, thì kể như “đem xuống tận đáy mồ”. Đói no ấm lạnh kể từ nay tôi không màng lo…

Kể từ ngày đó, nhiều người cần có trách nhiệm đối với tôi, dẫu rằng tôi không còn. Như các cha đã dạy, người ta phải cầu nguyện cho tôi, cho những người đã khuất. Xin những người còn lại là những người có thể làm được, làm giúp tôi. Xin mọi người hãy làm theo lời: “Hỡi ơi cựu ngãi cố tri, xin thương xót tôi cùng!”

*♦*
Đức Mẹ đã “có mặt” trong suốt đời tôi. Ba lần quan trọng nhất mà tôi đã đến nhà thờ đánh dấu sự có mặt quan trọng của Đức Mẹ đối với tôi, trong đời tôi. Từ lúc chưa biết nói cho đến khi không còn nói được nữa, tôi cảm thấy có một cái áo choàng che phủ tôi, bao bọc, bảo vệ tôi. Lúc còn nói được, tôi đọc kinh cầu. Lúc không còn nói được, xin những người còn sống đọc hộ tôi: xin Đức Mẹ là trạng sư biện hộ cho tôi trước tòa Chúa.