Ba lần trở lại

Xin đừng vội rầy rà, trách mắng rằng tôi là “đồ lì”, người ta một lần thôi là quá đủ rồi vậy mà tôi tới ba lần!

Tôi biết Chúa. Tôi biết đạo Chúa. Tôi giữ đạo Chúa. Tuy ba má tôi không còn, tôi luôn luôn nhớ lời ba má tôi dặn tôi, dạy tôi, cọng thêm những điều tôi đã học được từ nhà thờ cho nên dẫu có gì, tôi vẫn còn là người biết giữ đạo: tối kinh hôm, sáng kinh mai, ngày Chúa nhật giữ bổn phận với Chúa, khi hiểm nguy … thì lo cầu xin van vái.

Khi còn trẻ, tôi sống đời chiến binh. Nhà tôi ở, không, trại lính tôi ở nằm ngay sau lưng nhà thờ Chí Hòa. Từ trại tôi ở qua tới nhà thờ chỉ độ từ 2 tới 3 phút. Với bước chân của người lính trẻ như tôi khi đó thì chỉ cần 2 phút là tới nhà thờ, bước chân của người lính đánh giặc lo “tránh né lằn tên mũi đạn” mà. Tôi tính vừa sau khi học trò giúp lễ rung chuông, cha vừa từ phòng thánh đi ra bàn thờ, tôi chạy từ trại qua thì tôi sẽ đến nhà thờ ngay lúc cha bước ra tới bàn thờ, nhưng … Sau khi nghe chuông nhà thờ đổ, tôi nằm “nướng” thêm một chút, lăn qua lăn lại mới có mấy cái mà tôi nghe như là người ta đang đọc kinh “trông cậy”…

Những lúc không hành quân, ở nhà, chiều lại, cơm nước xong, tôi thường hay đi rảo chơi rồi ghé lại núi Đức Mẹ đọc kinh với bà con, xong ngồi hóng mát cho tới gần 9 giờ tối khi chú từ nhà thờ ra lo đóng cửa rào, bà con ra về thì tôi cũng rút lui, vô cửa sau của tiểu đoàn, về trại ngủ. Thường những lần đọc kinh núi như vậy là có vợ chồng anh. Anh là người cùng đại đội với tôi, có vợ con và nhà trong vùng này. Thấy tôi là “người đạo đức”, anh cũng tỏ ra quý mến tôi. Thấy tôi đơn độc và còn trẻ, anh tỏ ra thương tôi, chỉ cho tôi những kinh nghiệm chiến trường, để khi ra trận, biết mà tránh né, chạy nhảy.

Anh coi tôi như em. Mỗi lần nhà anh có giỗ quải hay tiệc tùng như ăn lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, hay Tết thì anh thường kêu tôi tới nhà, vì theo như anh nói, như vậy tôi có thức ăn và có tình gia đình. Còn nói gì những khi có lệnh chuẩn bị đi hành quân, anh thường biểu tôi chuẩn bị: lo đi xưng tội, nhớ đem theo xâu chuỗi lần, cây thánh giá nhỏ để trong ba lô, …

Nay, mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn còn thấy buồn. Lần đó, chúng tôi đụng trận tại Thủ Thừa. Bị vây, chúng tôi thoát được. Trận chiến kéo dài sau đó hơn 3 tiếng đồng hồ. Bên chúng tôi, chỉ có một người chết, mà người đó lại là anh. Đám tang anh, cùng chung trong một đại đội, tôi được vinh dự khiêng hòm anh khi đưa tiễn anh. Thánh lễ an táng xong, người ta không đưa quan tài anh trở về ngang nhà để “anh được thăm nhà” lần cuối, mà theo ý của gia đình, quan tài của anh được khiêng đi bộ từ nhà thờ ra, đi ngay tới núi Đức Mẹ, ngừng lại một chút để “anh” được lần cuối chào kính Đức Mẹ. Tại núi Đức Mẹ này, nhiều lần anh với tôi đã đứng đọc kinh cùng Đức Mẹ trên đường đi vào trại. Giờ trở lại đây, chỉ còn có một mình tôi, tôi cầu xin Đức Mẹ thương người quá cố.

Chôn cất anh xong rồi, tôi buồn như là mất đi người anh ruột. Anh lớn hơn tôi nên thường hướng dẫn tôi đánh giặc, chạy, núp, lăn, bò, bắn trong tư thế nào cho nó thuận lợi. Đó là điều mà anh thường hướng dẫn những người lính trẻ như tôi. Nhưng riêng với tôi, tôi nhớ anh thường hay căn dặn: mỗi lần trước khi đi hành quân, em nhớ lo đi xưng tội. Lần đó, anh cũng đã lo tròn bổn phận thiêng liêng trước ngày cùng với anh em lên đường đi bảo vệ quê hương, nhưng ai có ngờ đó là lần cuối!

Nhớ lại cảnh vợ anh với ba đứa con vấn vành khăn tang, tôi thấy buồn tê tái. Mấy đứa nhỏ rồi sẽ không cha. Tự nhiên, tôi có ý nghĩ: nếu người nằm xuống không phải là anh mà là tôi, thì chuyện đời sẽ êm ái hơn, ít đắng cay hơn. Bạn bè tôi sẽ buồn, tụi nó sẽ nhậu rồi sẽ quên. Còn anh, anh thương tôi nhiều, anh sẽ nhớ tôi và cầu nguyện cho tôi, sau đó thỉnh thoảng anh sẽ xin lễ cầu hồn cho tôi. Riêng phần tôi, không có một gánh nặng nào để lại, không có phần vướng víu, không có chi bận bịu. Cái chết của tôi sẽ chỉ để lại một chút buồn ở những người quen biết, rồi … thôi!

Ý mà không được! Lần đó, tôi đã quên đi xưng tội trước khi lên đường đi hành quân, đi trên con đường mà không ai có thể đoán được là ai “sẽ rẻ lối rồi dừng chân lại.” Tuổi thanh niên mà, tôi cũng có hơi “bê bối” mấy ngày trước khi đi hành quân. Nếu mà tôi “chết thay anh”, xác sẽ đi về lòng đất, nhưng hồn tôi sẽ về đâu? Tôi gục đầu, nước mắt chảy ra. Tôi nhớ tới anh. Không phải là anh đã chết thay tôi, nhưng cái chết của anh đã đánh động tôi nhiều: nếu đó là lượt mình thì “phận mình ra sao?”

Nghĩ vậy, hôm sau, tôi lo đi “nhà thờ” liền. Suốt gần một tháng trời không có đi hành quân, chỉ ở nhà tập luyện, sáng nào tôi cũng lo dậy đi lễ sáng. Nhè lúc đó lại là gần lễ Phục Sinh, họ đạo có mời các cha dòng Chúa Cứu Thế tới giảng cấm phòng, tôi đi dự đủ 3 ngày cấm phòng, rồi có đi xưng tội mùa chay nữa. Một trong 3 cha tới giảng tên là Phước. Mà chèn ơi, tên cha là Phước làm tôi cứ tưởng cha là người Việt Nam, tới hồi cha ra giảng mới té ngửa, cha là người Tây. Người Tây mà khi giảng, cha nói tiếng nho! Tiếng Tây tiếng Tàu, tôi có biết chữ nào đâu, vậy mà cho tới bây giờ, tôi còn nghe thoáng thoáng giọng cha giảng, tôi còn mường tượng thấy được gương mặt của cha, tôi còn nhớ cha đã có nói: thiên la địa võng, lưới trời lồng lộng, …

Xin chớ có ai cười tôi mà phải tội, nghe cha giảng, tôi tuy đã không hiểu được nhiều nhưng tới bây giờ vẫn còn nhớ. Tôi đoán ý cha muốn nói như vầy nè: việc gì Chúa cũng biết hết, rán đừng có làm tội. Tôi hiểu như vậy chắc là đúng rồi, và chắc là được rồi. May mắn được bình yên trong trận chiến vừa qua, cọng thêm những lời các cha giảng cấm phòng, tôi thấy hết hồn, tôi cảm thấy phải lo trở lại, để rủi mà thình lình có chuyện gì xảy ra …

***

Chiến tranh còn tiếp diễn, tôi lại cứ lên đường. Luật chiến tranh lần này lại áp dụng cho tôi, tuy không phải là lần đầu nhưng lần này nó trầm trọng. Tôi còn nhớ được là tôi đã trúng đạn, tôi bị thương, rồi không còn biết được “hồn đâu xác đâu” nữa. Không biết được là nằm mê mấy ngày, nhưng khi tỉnh lại, người đầu tiên tôi thấy được là “chị y tá.”

Sau khi chị y tá báo cho biết là sẽ có cha tuyên úy tới thăm tôi, tôi nằm chờ đợi. Tôi quay mặt nhìn về phía cửa, tôi thấy cha. Cha tới với tôi. Cha đến bên giường tôi. Tôi muốn làm một cái gì để biết được rằng tôi còn …, còn sống. Tôi phải tự tay tôi làm một cái gì mà do chính tôi nghĩ ra thì mới biết chắc chắn được đó đúng là … tôi. Tôi cố gắng nhấc tay tôi lên, mà sao nó nặng quá, tôi nhấc không nổi. Thấy vậy, cha đưa tay nắm tay tôi rồi tôi lại đi vào cơn mê.

Chợt tôi nghe tiếng động, có tiếng nói mà tôi không nghe rõ, tôi rán mở mắt ra thì: trời ơi, tôi thấy ông cha đang mặc “dây phép”. Cha đang định làm gì đây? Hay là đến lượt tôi rồi? Tôi cảm thấy buồn, buồn ghê gớm, buồn thương cho tôi, cho cuộc đời ngắn ngủi của tôi. Tôi mơ màng nghe cha đọc xù xì xù xì. Tôi thấy cha đưa tay qua lại trên người tôi. Nước mắt tôi tự nhiên chảy ra. Rõ ràng rồi, cha đang làm phép bí tích cuối cùng cho tôi. Tôi thoáng nghĩ: rồi hôm nào người ta sẽ đưa tôi đến “nơi yên nghỉ cuối cùng.” Có ai đi với tôi không? Và hồn tôi sẽ đi đâu?

Vậy mà chưa! Lần đó cũng chưa phải là lượt của tôi. Cũng hơn 10 ngày sau, tôi khá nhiều. Cô y tá, không, đó là chị y tá. Lúc đó tôi được 23, mà chị ấy ngoài 40. Chị là người Công Giáo. Nhìn hồ sơ thấy tôi là người Công Giáo, lại độc thân, chị chú ý săn sóc nhiều cho tôi, nhờ vậy tôi bớt cô đơn. Xâu chuỗi lần của tôi đâu mất tiêu, chị đưa cho tôi xâu chuỗi lần khác. Sáng sớm khi đến phòng tôi, chị thường cầm tay giúp tôi làm dấu Thánh Giá. Sau người anh đồng đội, giờ lại có chị y tá, đây là những người thương tôi trong cuộc đời ô trọc và đơn độc này.

Ngày qua ngày, tôi khoẻ lại. Tôi được cho rời bệnh viện, rồi cho giải ngũ vì mức độ bi thương. Tôi trở về cuộc sống bình thường với nhiều khó khăn của một người không nhà, không thân nhân. Ngày ôm quần áo, vật dụng rời khỏi Tiểu Đoàn, tôi đi ngang “Đất Thánh Các Cha Chí Hòa”. Trong người thấy mỏi mệt, tôi dừng lại một chút. Tôi bước tới, đứng vịn vào tường rào nhìn vào các dãy mộ. Mộ các cha cũng nhiều ghê! Tôi suy nghĩ: rồi thì ai cũng có một ngày. Ngày đó sẽ đến và không từ một ai. Cơ thể rả rời, tâm trí loạng quạng, tôi nghĩ vẫn vơ: mộ tôi đâu sao không thấy? Tôi mới sực nhớ lại đây là nơi chôn các cha, còn tôi, nếu có là ở nghĩa trang quân đội ở Gò Vấp …

Mà nếu đã có nằm ở đâu, tôi cũng đâu có còn là tôi nữa. Tôi vẫn còn đây. Hưởng được tiền thương phế binh, được một người bạn cho ở đậu, tôi tạm có được đầy đủ cơ hội, thời giờ để lo cho những ngày sắp tới. Với tấm thân lăn qua đau, lăn lại nhức, với số tiền mọn hằng tháng tạm đủ sống qua ngày, tôi không dám nghĩ tới là cuộc đời tôi sẽ còn dài bao lâu nữa. Tôi cảm thấy tôi phải làm một cái gì, phải lo một cái gì cho tôi. Và tôi đã làm: sáng dậy tôi lo đi lễ sáng, trưa 2 giờ tôi đi tới nhà thờ một mình lần chuỗi, hôm nào có phép lành thì tôi đi dự phép lành, chiều tôi ghé núi Đức Mẹ đọc kinh cùng bà con trong họ ... Như vậy là đã hai lần tôi quay về với Chúa, được dịp quay về với Chúa.

***

Lần hồi rồi sức khoẻ tôi cũng hồi phục, tuy không lấy lại được một trăm phần trăm như thuở nào nhưng cũng được ít nhất là tám mươi phần trăm. Tôi đã trở lại bình thường. Tôi đã phải trôi nổi đó đây để mưu sinh, rồi cuộc sống trôi giạt đã đẩy đưa tôi đến xứ lạ quê người, một quê hương xa thẳm. Ở đây, sau nhiều năm vật lộn với cuộc sống, tôi lại được dịp trở về với tôi. Phần nào, tôi lại làm chủ được thời gian của tôi. Tôi tìm cách lân la trở lại nhà thờ. Cha chánh xứ gặp tôi đã chào hỏi: “Lâu quá không được gặp ông?” Tôi thiệt tình trả lời: “Dạ con có đi tới nhà thờ đâu mà cha gặp con!”

Mà thiệt, lúc còn đi làm việc, để giữ luật Chúa, ngày Chúa nhật tôi “tấp” vô nhà thờ Mỹ gần nhà để làm tròn bổn phận, còn nhà thờ Việt Nam, tôi chỉ đi lễ ngày Chúa nhật nào mà tôi “gọi bệnh”. Kỳ dư, gần như tôi không biết được sinh hoạt nào khác trong đạo. Giờ thì hưu trí rồi, như nhiều người khác, tôi mới có được chút ít thời giờ để lui tới nhà thờ. Tôi cảm thấy, đối với tôi, không còn lúc nào thuận tiện hơn nữa.

Lễ Chúa nhật là chuyện quá ư quen thuộc. Tôi còn đi làm việc kính Đức Mẹ hằng tuần vào chiều thứ bảy để bấu víu Đức Mẹ, để có nơi nương tựa. Tôi cố gắng đi lễ mỗi thứ sáu đầu tháng, bởi tôi còn nhớ Chúa đã hứa cùng bà thánh Magarita: ai giữ được thứ sáu đầu tháng trong 7 lần liên tiếp thì Chúa sẽ không quên người đó trong giờ lâm chung, dại gì mà không rán giữ. Có giảng cấm phòng là có tôi, bởi khi nghe cha giảng, ích lợi không nhiều thì cũng ít, mà có.

Nhưng những người tôi thường gặp gỡ trong những dịp này là những người ở vào trạc tuổi tôi. Đó là những người phần đông tính ra tuổi đã ngoài sáu mươi, mà tính lại thì chắc nhiều lắm là còn ba cái mươi nữa: bảy mươi, tám mươi rồi chín mươi, bởi không có ai tính cái mười mươi, mà không dễ có mấy người đạt được. Ở trong lứa tuổi của những cái mươi này, nhiều người “đi lắm.” Có lẻ không nói ra với nhau nhưng ai cũng tự thấy là … ngày đó gần kề, nên có phải chăng những người ấy đã tự quyết định cho mình “lo trở lại”, cho nên những dịp lễ lạc của nhà thờ, lúc nào có họ đến, lúc đó có tôi, nơi nào họ đến, tôi đi theo, trừ ...

Để bước đi được vững chắc, chúng tôi nương nhờ Đức Mẹ, thánh cả Giuse, Thánh Tâm Chúa Giêsu, cùng sự cầu bàu của các thánh. Lại còn có “Lòng thương xót Chúa”, hồi xưa chưa nghe nói tới, giờ biết rồi, cũng tìm đến làm nơi nương tựa. Tuy là “bữa đực bữa cái”, bữa có bữa không, tôi rán đọc kinh “Lòng thương xót Chúa” lúc 3 giờ chiều để tưởng niệm giờ chết đau thương của Chúa trên đồi Calve. Chắc chắn là không còn có lần nào khác nữa, lần này xem như là lần thứ ba rồi, “nhứt hóa tam”, xin Chúa thương xót như xưa Chúa đã thương xót “người trộm lành” tỏ lòng ăn năn.