Bàn kiệu

Nhớ lại khi còn nhỏ, tuy không phải là người đạo đức nhưng tôi thường không vắng một cuộc lễ nào trong họ đạo. Khi còn đi chưa vững, cả nhà đi lễ, phải ẳm hay dắt tôi theo chớ để ở nhà một mình, ăn trộm vô … lượm sao? Cho nên tôi đã bắt đầu đi lễ ngay từ lúc còn rất nhỏ. Lớn thêm lên, khi đã vô trường học rồi thì bà phước đưa ra một bản điều lệ gồm những chuyện phải làm và những chuyện không nên làm, trong đó có việc đi lễ nhà thờ, và những việc lành phước đức khác. Qua đó, việc đi nhà thờ là một việc không thể thiếu sót.

Vì đi nhà thờ thường, tôi gần như biết hết các sinh hoạt của họ đạo. Trong các sinh hoạt đó, đi kiệu là một sinh hoạt khá hấp dẫn đối với tôi và một vài bạn khác. Đi kiệu là gì? Là đi kiệu, là đi ra ngoài nhà thờ, là đi lễ vừa ở bên trong nhà thờ, vừa ở bên ngoài nhà thờ, là dịp để bọn trẻ chúng tôi nhìn quanh quất, vừa đi vừa hát.

Nhớ lại thời đó, cái thời mà tôi muốn nói tới, dường như có ba cuộc kiệu lớn trong năm, một là kiệu Đức Mẹ ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ngày 15 tháng 8, một là kiệu Thánh Tâm Chúa là bổn mạng nhà thờ, một là kiệu Chúa Hài Đồng ngày lễ Sinh Nhựt. Vì chỉ có ba cuộc kiệu lớn nên việc lo trước ngày lễ rất là bận rộn và ngày đi kiệu rất là tưng bừng. Ai cũng nôn nao lo lắng. Người có đạo thì tham gia lo chuẩn bị, ngày lễ thì đi trong hàng kiệu. Người không có đạo thì sau khi nghe tin, tham gia bằng cách đứng bên ngoài nhìn.

Mỗi lần trong họ có cuộc kiệu, đi đầu là “thánh giá đèn hầu”, tiếp đến là đồng nhi nam nữ, rồi mới tiếp các hội đoàn, bàn kiệu … Đi kiệu thì tôi và các bạn được chú ý nhiều, vì một là bọn tôi đi ở hàng đầu, hai là vì thường hay vừa đi vừa quay đầu lại nhìn phía sau nên … lạc hàng, bà phước hay mấy ông biện phải thỉnh thoảng đẩy trở lại vô hàng. Mà không quay đầu trở lại sao được khi mà bàn kiệu đẹp quá, lạ quá, lâu lâu mới được thấy một lần.

***

Thời đó, cũng là thời đó, mọi việc đối với tôi, cái gì cũng lạ, cái gì cũng đẹp. Mà cái gì lạ, đẹp thì thích nhìn. Mà có nhìn là có nhớ. Sau lễ, sau cuộc kiệu, bàn kiệu được đem vô cất trên lầu, trong phòng thánh, những ngày đó thì quên bàn kiệu là cái gì, và nó ra sao. Mà trong những ngày này, sắp tới lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, sắp có đi kiệu, bàn kiệu lại được bàn tới, lại được đem ra để lo làm lại. Bàn tới bàn lui gì rồi cuối cùng viêc lo bàn kiệu cũng về tay ông sáu Mẫn. Ông rất được tin cậy, nên được giao phó cho công việc này, nhiều năm nay rồi.

Ông được tín nhiệm là do ông có tay nghề, và mọi người lại nhìn thấy ông là người có lòng. Nội cái việc ông có đứa con trai duy nhất là anh Khiêm mà ông đã sẵn sàng dâng cho Chúa, để cho anh ấy đi nhà trường la tinh. Rồi anh đau nặng, chết “trong nhà tu”, ông đã phải lặn lội đi Sài Gòn để tiễn con! Trở về, bên trong không biết làm sao, nhưng bề ngoài ai cũng thấy ông bình thường. Những người quen biết không đi Sài Gòn được, đến thăm chia buồn với ông. Ông nói:

- Ai sao không biết chớ được như vậy là kể như nó được trọn vẹn trong nhà Chúa!

Ông phì phà điếu thuốc, mơ màng nhìn theo khói thuốc bay như để tận hưởng trọn vẹn câu nói đầy triết lý của mình.

Bàn kiệu được phụ khiêng từ trên lầu xuống, dĩ nhiên là dưới sự điều động của ông sáu, bởi ông là người có tay nghề. Trong họ đạo này, và cả trong xóm làng, thợ mộc thì cũng có mấy người chớ đâu phải chỉ có một mình ông, nhưng mỗi khi có chuyện liên hệ tới bàn kiệu là cha và hội đồng quới chức mời ông tới họp, và thường nghe ông.

Năm đó, sau buổi họp chiều Chúa nhật ở nhà thờ, sáng hôm sau, ông đi tới nhà tôi:

- Thọ ơi Thọ!

Cậu tôi chạy ra hỏi:

- Cậu sáu, có gì không cậu?

- Tao muốn hỏi coi nay mai mầy có huởn(*) không?

- Huởn để làm gì?

- Thì để phụ với tao?

Rồi ông nói luôn:

- Nhà thờ nhờ tao lo lại bàn kiệu ..

Rồi ông ho một hơi. Cậu tôi hỏi:

- Cậu ho quá, sao cậu không bỏ điếu thuốc ra?

Ông trả lời:

- Bỏ điếu thuốc ra làm sao tao thở?

Thấy cậu tôi có vẻ ngạc nhiên, ông giải thích:

- Đời tao, điếu thuốc là hơi thở mà mậy!

Trong họ thiếu gì người biết chút đỉnh nghề mộc, nhưng ông không thích họ, mà lần nào có làm việc gì ở nhà thờ là ông kêu cậu tôi, bởi cậu tôi dễ sai dễ bảo, hễ làm là làm thinh làm, không hỏi đi hỏi lại nên ông thích. Ông nói thẳng:

- Tao không thích mấy thằng làm ít nói nhiều, làm một nói mười.

Cậu tôi hỏi lại:

- Còn tui thì sao?

- Tao thích mầy là cái thằng hễ làm là lo làm, không có nói, với lại hễ tao nói gì mày nghe nấy!

- Giống cậu phải không?

Rồi ông cười hề hề:

- Bị tao mắc ngậm điếu thuốc làm sao mà nói!

Vậy là ngày hôm sau, cậu tôi ăn cơm sáng xong là lo đi lên nhà thờ. Cậu tôi làm việc nhà nên có thì giờ, muốn rảnh lúc nào thì rảnh, còn tôi lúc đó đang bãi trường nên cũng xách nón chạy theo, không biết là để làm gì.

***

Trong những ngày trước lễ, bà con đến phụ lo dọn lễ. Đi lên nhà thờ thì bà con đã đến đông đảo, nhưng công việc được chia ra nhiều khâu khác nhau, chuyện ai nấy làm. Nhóm đông lo trồng cờ ở phía trước nhà thờ. Nhóm này gồm những người mạnh khỏe, để có sức mà khiêng cột và đào lỗ chôn cột. Các cây cột cờ được cất trong nhà nhóm ở phía sau nhà thờ, từ đó khiêng ra trước nhà thờ phải đi một đoàn đường dài, rất nặng, nên công việc này … không có tôi.

Nhóm lo đào lỗ chôn cột cũng là những người mạnh khỏe, ai nấy đều có đem theo dụng cụ để đào đất. Nhóm này làm việc dưới sự hướng dẫn của mấy ông biện, đứng ngắm và phân chia vị trí các cây cột cho đều đặn. Khi cây cột được đặt xuống rồi, các ông ngắm nghía coi có thẳng đứng không. Còn có việc nữa là các cây cột có được chôn ngang tầm nhau không, không thể có cây cao cây thấp. Vừa khéo vừa nặng nên công việc này … không có tôi.

Còn việc nữa là treo các dây cờ xanh-trắng, cờ Đức Mẹ, dọc theo đường đi kiệu xung quanh nhà thờ, có mấy dây treo từ tháp nhà thờ chạy xuống thành bốn hàng đến cỗng nhà thờ. Các người làm phải đi theo đường lên lầu hát bên trong nhà thờ, rồi leo thang đi lên tháp nhà thờ cao ngất. Đứng dưới đất nhìn lên muốn trật cái cần cổ, đứng trên nhìn xuống thấy hãi hùng, phải là những người mạnh khỏe và dạn dĩ, nên công việc này … không có tôi.

Việc làm bàn kiệu thì không thể ở bên ngoài. Ông sáu và cậu tôi lui cui lo làm “một mình” bên trong phòng thánh nhà thờ, có tôi ở đó. Trước khi bắt đầu, ông sáu đưa ra tờ giấy, có vẽ hình bàn kiệu rồi giải nghĩa. Nhìn vô, cậu tôi nói:

- Tui thấy cũng giống như mấy năm trước chớ có gì khác đâu cậu?

- Tầm bậy mậy! Dòm vô, người ta nhiều người cũng nói như mầy, chớ bà con đâu có thấy mỗi năm mỗi khác!

- Đâu cậu chỉ cho tui coi năm nay khác năm ngoái chỗ nào đâu?

- Mầy còn nhớ mấy bình bông năm ngoái không? Năm nay mình cũng có bông là lẻ đương nhiên rồi, nhưng năm nay tao thả thêm bông bên dưới tượng Đức Mẹ. Mỗi năm khác một chút, cũng như mình cũng phải khác đi, thay đổi cho hợp.

Rồi ông hỏi khó:

- Mầy còn nhớ hồi cha Giuse Bùi Văn Nho về đây giảng cấm phòng không?

- Chời ơi! Cả chục năm nay rồi mà cậu còn nhắc!

- Thì chuyện cũ mới nhắc. Tao còn nhớ cha nói là chúng ta phải luôn luôn lo đổi mới.

Cậu tôi tức ý:

- Làm sao mà thay đổi hoài được? Mà chuyện gì đâu mà thay đổi hoài!

- Cái thằng không nhớ! Tao còn nhớ cha dạy: lo đi xưng tội cũng là việc đổi mới… Luôn luôn phải lo đổi mới.

Rồi ông cười hề hề. Như nói xong, ông và cậu tôi bắt đầu. Ông bắt cậu tôi đọc kinh. Ông làm dấu. Tôi cũng đọc theo. Tiếng kềm tiếng búa bắt đầu nổi lên, lụp cụp lạc cạc: dùng kềm để tháo đinh ra, dùng búa để đóng đinh vô. Cây đinh nào lỡ văng xuống đất thì sẽ do bàn tay khéo léo của tôi … lượm lên. Thỉnh thoảng ông thử bằng cách lắc lắc bàn kiệu để coi chắc chưa. Rồi ông kêu cậu tôi phụ với ông để nhớm(*) thử bàn kiệu lên. Cậu tôi phụ nâng lên rồi nói:

- Đâu có nặng gì cậu?

- Ừ, đâu có nặng bao nhiêu, với lại chưa có tượng Đức Mẹ mà mậy. Có thêm tượng thì cũng nặng vừa phải để cho mấy đứa Hội Con Đức Mẹ khiêng nổi.

Thử xong để xuống, ưng ý ông đi ra làm một điếu thuốc để thưởng mình, rồi ho một hơi cho đả cổ, xong trở vô.

Không có việc gì nhiều, vì khung bàn kiệu đã được ông làm cách đây hơn chục năm. Chỉ có việc chỉnh lại xem có còn chắc chắn không, và có đôi điều làm lại theo ý ông. Ông nói mỗi năm sữa đổi chút ít. Bàn kiệu phải được lo xong về mặt “mộc” ngay hôm nay, sáng hôm sau là ngày lễ, các bà các cô sẽ tới sớm đặt bông lên, đặt tượng Đức Mẹ lên, cũng theo sự hướng dẫn của ông sáu, rồi còn gắn đèn cầy nữa. Xong, bàn kiệu được khiêng ra nhà thờ để sẽ được kiệu đi vòng quanh nhà thờ.

Cuộc kiệu đã diễn ra tốt đẹp. Kinh hát kinh đọc xen lẫn nhau. Trời nắng tốt nên nhiều người phải lấy quạt che đầu, thỉnh thoảng hạ xuống quạt cho mát. Gió hiu hiu đem lại vài cơn mát nhẹ, đôi lúc làm tắt mấy ngọn đèn cầy trên bàn kiệu khiến cho mấy ông biện đi theo yểm trợ hai bên bàn kiệu phải lo đốt lại. Cuộc kiệu năm đó, cách đây lâu lắm rồi.

***

Cuộc kiệu xong, ai nấy ra về, vui vẻ, lòng hân hoan có dịp đi tung hô Đức Mẹ. Trên đường về, nhiều người bàn tán về bàn kiệu. Cậu tôi lo làm trở lại công việc thường ngày của cậu, là nghề may, nhưng “ông thầy” là ông sáu thì ra vô nhà thương. Ông ho quá, nghe xót ruột nên người nhà đưa ông đi vô nhà thường khám bệnh. Mấy ngày rồi mà không thấy giảm. Cậu tôi tới thăm. Ông nói:

- Mai mốt tao giao bàn kiệu cho mầy luôn.

Cậu tôi không chịu:

- Rồi nay mai cậu mạnh lại, có gì tui đi phụ với cậu.

Ông cũng không chịu. Ông cương quyết “giữ vững lập trường” và “bỏ đi”.

Đến đọc kinh cho ông, người ta cũng bàn:

- Rồi không biết mai mốt đây ai lo làm bàn kiệu cho nhà thờ?

Có người nói:

- Anh khéo lo, thế nào cũng có người mà, lo gì! Anh có biết là trước kia ai làm bàn kiệu không?

Anh ta kết luận luôn:

- Ông Út Thinh! Ông Út Thinh là cha của ông sáu Mẫn. Ông Út chết, ổng giao lại trại cưa cho ông sáu Mẫn và giao luôn công tác làm bàn kiệu cho nhà thờ. Nay tới phiên ông sáu chết, thế nào cũng sẽ có người nối tiếp ông. Việc nhà Chúa mà! Nó sẽ nối tiếp hoài. Anh tin tui đi!


* huởn: rảnh
*nhớm: nâng lên.