Bà Rịa quê buồn

Tên gọi của Bà Rịa không biết có từ lúc nào, và nguồn gốc từ đâu. Nguồn gốc của tên đó, nhiều giả thuyết quá, nên đối với tôi, tôi chỉ cần biết rằng tên của quê tôi là Bà Rịa.

Bà Rịa, rồi Phước Tuy, rồi lại Bà Rịa, có lúc lại kèm thêm Bà Rịa-Vũng Tàu, nhưng dẫu được gọi dưới bất cứ tên nào, chính phần đất ấy là quê hương của tôi, nơi tôi đã sinh ra. Tên gọi Bà Rịa có lẻ đã được thấm vào tim óc tôi từ khi biết đọc, biết viết, biết nhìn và biết nhớ. Sau khi lớn lên rồi, đi đó đi đây, gặp ai hỏi: quê anh có gì hay? Tôi thường trả lời: quê tôi có đá với cát. Có cát là vì Bà Rịa là nơi có dấu vết của biển mà điển hình là cái “Xóm Cát” quen thuộc với người Bà Rịa “cũ”. Tôi phải nói là người Bà Rịa cũ vì bây giờ, ngày nay, nếu đi đến Bà Rịa mà có ghé vào nơi đã được gọi là Xóm Cát, hỏi cát đâu, tôi sẽ đau buồn mà trả lời “cát đi mất rồi!” còn người Bà Rịa mới, những người bây giờ đang sinh sống tại Bà Rịa, có người không thể nào hình dung được hình ảnh của cái xóm đã có nhiều cát, cát ngoài đường đi, cát trong sân nhà…

Còn đá? Trên con đường đi từ Sài Gòn tới Bà Rịa, trước khi đi vào châu thành, người ta sẽ thấy mấy cụm núi nhỏ bên phía tay trái mà tôi nghe nói là “núi Dinh”, người thì lại nói đó là “núi Đất”. Không biết đúng hay sai, nhưng tôi cứ thích gọi nó là núi Dinh, kèm với tên của sông Dinh, con sông chảy ngang chợ Bà Rịa cũ (có người gọi con sông này là sông Long Hương). Có bấy nhiêu ngọn núi nhỏ mà nói gì là đá. Xin thưa: đá thì cứng, ai cũng biết điều này. Mà cứng tay cứng chân thì rất là có ích vì ta còn nhớ, ông bà xưa có câu “mong sao chân cứng đá mềm” trong việc cấy cày, còn cứng ở đây, đáng sợ là “cứng đầu.” Mà dân Bà Rịa, đi đâu cũng thường bị “mắng” là dân cứng đầu. Về phía đạo Công Giáo, đi tu ở Chủng Viện Sài Gòn, ở Nhà Trắng Sài Gòn, hay ở các dòng Mến Thánh Giá như Thủ Thiêm, Chợ Quán, “dân” Bà Rịa thường hay bị mắng là “dân núi!” mà tiêu biểu là hai anh em cha Công cha Quang, cha Triêu. Năm đó khi Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, vị Giám Mục tiên khởi của Việt Nam về nước được đón tiếp tại Chủng Viện Sài Gòn, thầy Quang (khi đó còn làm thầy) đã làm một bài vè để mừng vị Giám Mục mới người bổn xứ, nếu vậy thôi thì ai mà nói, đàng này, bài vè đã cứng rắn lên án các vị thừa sai ngoại quốc…

Bà Rịa không phải là một nơi du lịch, nghĩa là nơi mà khách phương xa đến để thưởng ngoạn, để nghỉ mát, để vui chơi. Bà Rịa chỉ là nơi du khách mượn đường đi qua, để đến Long Hải hay Vũng Tàu, hay là nơi du khách tạm dừng chân trên đường trở lại Sài Gòn để mua vài thứ trái cây. Cũng có cá tươi cho khách nhưng đó là cá được chở từ Long Hải hay Phước Hải, cho nên mua tại Bà Rịa không nhiều thì ít, cá cũng bớt tươi. Mít cũng ngon nhưng đó là mít được chở từ Đất Đỏ lên. Dừng chân tại Bà Rịa, du khách rán mua cho được chuối chà và mảng cầu. Mảng cầu thì có vào mùa Trung Thu, nghĩa là vào các tháng 6, 7, 8 ta, nhưng chuối chà thì có quanh năm, mà chuối chà Bà Rịa thì … ngon nhất nước.

Nếu anh hay chị mà có đến Bà Rịa ở những ngày xa xưa đó, mà có gặp tôi, tôi sẽ chỉ cho anh chị thấy tại sao Bà Rịa là một xứ nhỏ và nghèo mà lại có thể thu hút được lòng người, nhất là những người bản xứ nếu có phải đi xa sẽ phải lưu luyến nhớ và thấy thật thấm thía câu viết của Montesquieu: “Plus le sol est ingrat, plus on s’y attache!”

***

Trên đường từ Sài Gòn đi Bà Rịa, còn cách Bà Rịa khoảng 5, 10 cây số, du khách sẽ gặp những làng được thiết lập sau năm 1954 như Chu Hải, Láng Cát, và càng đến gần Bà Rịa còn cách khoảng 5 cây số, có cái làng mang tên Long Hương. Qua khỏi Long Hương này, du khách lại sẽ gặp làng Long Hương. Đây mới chính là Long Hương xưa của người Bà Rịa cũ.

Ta tạm dừng chân lại tại làng Long Hương đầu. Đó là Long Hương của đồng bào miền Bắc di cư. Từ hướng Sài Gòn đi Bà Rịa, ngay tại làng Long Hương này, có một lối rẻ bên phía tay trái, theo lối đi này, ta đi vào trong núi. Đường không xa lắm, chỉ khoảng non 2 cây số thôi. Những ngày trong tuần, người ta “làm đá” nên ở chân núi còn có thấy được “bóng người”, nhưng gặp ngày Chúa nhật thì ít gặp được ai, đến đó chỉ có mình ta với ta. Đứng ngay dưới chân núi nhìn lên, ta sẽ thấy có hai hòn đá tận trên cao. Trên đỉnh một hòn đá, rộng độ một bộ ván, người ta có dựng một cây thánh giá. Có cái cầu treo bắt qua hai hòn đá này. Quí vị đừng sợ, đứng trên cây cầu treo này, nhìn xuống, chỉ thấy bên dưới nó sâu độ vài chục thước thôi. Đứng trên cầu mà gặp lúc gió thổi, ta sẽ thấy cái cầu nó lắc lẻo, lung lay…

Ở chân núi, bên phía trái là rừng, mà rừng thì thường hay có … nhưng cũng đừng sợ, khi đi, mình cẩn thận nhìn xuống đất, xem có dấu chân … 3 ngón dưới đất không, coi coi dưới đất có cọng lông nào mà nửa vàng nửa đen không, nghe coi có mùi nào hôi hôi thúi thúi không? Nếu có, vắt hai chân lên cần cổ, chạy! Nếu không có gì khả nghi hết, mình yên tâm đi.

Vừa qua khỏi bìa rừng, ta sẽ gặp một con suối. Hồi xưa, hằng năm vào khoảng các tháng 7, 8, 9 âm lịch, trời đổ mưa rồi, suối có nhiều nước. Cảnh “thần tiên” của quê tôi có tại đây: nước suối thì khỏi nói rồi, nó trong vắt. Ở những chỗ sâu đến vài thước, ta có thể nhìn rõ được tận đáy những con cá lội, những hòn sỏi nằm dưới đáy. Đi ngược về nguồn, con suối chạy dài đến tận trên núi cao, ở tận nơi nào, ít ai nói được và dám tới, vì càng đi sâu, càng dễ gặp… Ta cứ ở phía dưới này thôi cũng đủ thưởng thức những thú vị thần tiên của một con suối. Dọc theo đường đi, có những cây to mọc ven theo suối, rễ của nó thả dài xuống, gặp chỗ “búng”, suối rộng ra hơn, sâu hơn, ta làm Tarzan chơi. Leo lên cây, kéo rễ cây vào gần, buông tay ra, dây leo sẽ đưa ta đi qua đi lại ngang con suối, năm lần bảy lượt, đả rồi, buông tay ra, rớt tỏm xuống suối!

Sau khi đã có mưa vài tháng rồi, đi trong suối, coi chừng trợt té khi đạp chân lên những hòn đá. Nó rất trơn, vì trên mặt đá có bám thứ rong, trắng trong như “xưng xa”, người ta gọi là “trứng đá”. Đá đẻ ra trứng? Bởi vậy, người ta gọi con suối này là suối “Đá Dâm”. Nếu biết mà đem theo ít đường, một cái ly, để trứng đá vô, ăn nó ngon hơn bất cứ loại xưng xa nào khác… Vùng rừng núi này của Bà Rịa không phải chỉ có vậy thôi, nhưng xin tạm ngừng kể để đi về Bà Rịa.

***

Vừa vào châu thành, vừa qua cầu Long Hương là chợ, chợ cũ của Bà Rịa. Ngay đầu chợ, ta sẽ thấy tháp nước. Tuy không cần biết tiếng tây tiếng u, người Bà Rịa quen gọi nó là “sa tô đô” (chateau d’eau), bây giờ nó có cái tên mới là “Nhà Tròn”. Đây là một ngôi nhà hình tròn, có 4 cửa ra vào ở bốn phía. Xưa, phía trên cao là bồn nước, phần dưới là của Ty Thông Tin, để dán các tranh ảnh thời sự, và là nơi tránh mưa của những người đi chợ.

Bước ra khỏi nhà tròn, đi về phía tay trái sẽ gặp “nhà dây thép” ở bên tay phải, đi tới chút nữa là Tòa Hành Chánh. Ngay ngả ba Tòa Hành Chánh, trên đường Phạm Hữu Chí, người ta thấy vách thành bằng đá, đó là khám Bà Rịa. Đây là một ngôi nhà được bao quanh bởi bốn bức tường bằng đá dày gần một thước, cao gần năm thước, bên trên có gắn miểng chai lởm chởm, bên trong lại có thêm một vòng rào cũng là tường bằng đá nữa, rồi mới tới các phòng nhỏ nơi giam các tội nhân.

Người ta kể lại: năm đó, lâu rồi, chiều lại lính đưa về khám một người tù đặc biệt. Đặc biệt vì ông ta ở độ tuổi trung niên, gương mặt có vẻ hiền lành, sáng sủa không ra vẻ của một người tù, tay chân đều bị còng, và xích lại với nhau. Ông ta đi đứng khó khăn. Ngày, các người tù khác đi làm việc bên ngoài nhưng ông ta thì không, luôn luôn bị giữ trong phòng. Cửa phòng giam ông luôn luôn có hai người lính, cầm súng đứng canh, ngày đêm.

Sau độ vài tháng, thấy người tù đã trở nên ngoan ngoản, lính giảm bớt xiềng hai chân, chỉ còn còng hai tay, chiều lại cho đi ra trong khám, dạo mát. Rồi ngày qua ngày … Đêm đó, người tù đã phi thân, nhảy qua bức tường đá, chạy băng đồng về hướng núi, lính đuỗi theo không tìm được, kết cuộc có mấy người lính vô thế chỗ của người tù!

Đứng ngay trước cửa của nhà tròn, nhìn về hướng đông, có con đường dài có tên là đường Thành Thái, mà dân Bà Rịa quen gọi là “đường sứ”. Đi hết con đường là “ngả ba cầu tàu”. Đây là một ngả ba, có cái vòng tròn xây bằng xi măng ở giữa để giữ cho xe cộ qua lại theo một chiều qui định. Đi thẳng là đường đi về Long Điền, rồi Chợ Bến, Long Hải, Đất Đỏ, Phước Hải, Xuyên Mộc, … Đi qua hướng phải là con đường đi về Vũng Tàu. Ngay ngả ba, thời xưa đó có rạp hát Thành Thái mà thỉnh thoảng mới có một đoàn cải lương đến hát.

Du khách muốn đi tắm biển, hóng gió ở Long Hải, Vũng Tàu phải đi ngang qua con đường Thành Thái này, cho nên hồi xưa, chiều thứ bảy và chiều Chúa nhật, xe cộ qua lại dập dìu trên con đường này. Nhờ vậy Bà Rịa trở nên bớt vắng vẻ. Xe đạp còn không có mà đi thì nói gì là xe hơi, vậy mà nhiều người xứ tôi rất “rành” về xe hơi. Xe sắp chạy tới, nhìn từ xa, nhiều người đã nói được đúng tên hiệu xe: Peugeot, Citroen, Simca, .., xe Huê Kỳ, … Thật là thú vị cho bà con ở xứ nghèo, chiều thứ bảy, Chúa nhật lên ngồi ở tiền đàng nhà thờ, ngắm xe qua lại. Người ta có xe, người ta đi. Mình không có xe, mình ngồi ngó.

Tưởng khách chỉ đi ngang qua thôi, không ngờ có một chiều thứ bảy, khi chúng tôi đang ngồi trên tam cấp nhà thờ để .. đếm xe qua lại, có ba chiếc xe hơi chạy vào sân nhà thờ. Khách trên xe bước xuống, ăn mặc sang trọng. Một ông đã hỏi: “Đây là nhà thờ Bà Rịa phải không mấy em?” Trời đất ơi! Đây là Bà Rịa thì nhà thờ này là nhà thờ Bà Rịa, hổng lẻ đây là nhà thờ Sài Gòn! Chưa kịp cự nự thì ông đã tiếp:

- Chúng tôi là bổn đạo ở họ Tân Định. Chúng tôi muốn ghé lại thăm nhà thờ của Đức Cha Tòng hồi xưa, bị có một dạo Đức Cha là cha sở họ Tân Định tụi tôi.

Thì ra là vậy!

- Dạ mà giờ này thì nhà thờ đóng cửa.

- Không sao, tụi tôi đi coi vòng vòng xung quanh cũng được.

Đi xong một vòng, các ông bà lại hỏi:

- Còn nhà thờ các thánh tử đạo, mấy em có biết ở chỗ nào không?

- Dạ biết chớ, mà bây giờ tối hù rồi, đâu có vô đó được.

- Vậy cở mấy giờ mình vô đó được?

- Sớm sớm cở ba bốn giờ.

- Từ đây đến đó, mình đi lối nào…

Thì ra quê hương tôi nghèo, tuy không đến đỗi “đất cày lên sỏi đá”, nhưng bởi nó không có gì để thu hút khách phương xa, không mấy người đến đây để giải trí. Người đến đây, có chăng là những người muốn tìm lại dấu vết của “người xưa.” Có một dạo, Đức Cha Nguyễn Bá Tòng là cha sở họ đạo Bà Rịa. Cha đã xây dựng, sữa chửa một số cơ sở: nhà tuồng, trường học. Còn nói gì nhà thờ “Các Thánh Tử Đạo”, còn được gọi là nhà thờ mồ, nơi giữ lại đống tro tàn của ông bà chúng tôi đã hi sinh mạng sống để bảo vệ đức tin Công Giáo, để quyết một lòng trung trinh với Thiên Chúa. Đó là một ngôi nhà thờ nhỏ, chỉ có thể chứa độ năm sáu mươi người đứng để dự lễ, tuy nhiên nó chứa đựng một hào quang to lớn của hơn 400 đấng anh hùng.