Bài đã được đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số , tháng 11 năm 2011
Chuyện xưa chuyện nay

* Chuyện hồi xưa, năm 1764

Thầy Tôma Toán sinh năm 1764 tại Cần Phán, tỉnh Thái Bình. Lý lịch của thầy, người ta chỉ biết có vậy cộng thêm việc thầy Tôma Toán vừa là hội viên dòng ba Đaminh, vừa là thầy giảng có uy tín làm nhiệm vụ truyền giáo ở Trung Linh. Nhà dòng giao cho thầy chức phụ tá quản lý nhà chung tại đây. Thời Minh Mạng bách hại, thầy Toán là cánh tay phải đắc lực của cha già Tuyên trong việc tông đồ.

Trong làng Trung Linh có ông lang Tư, vì ham tiền thưởng tố cáo với quan phủ Xuân Trường rằng có đạo trưởng ở trong làng, nên ngày 16.12.1839, quân lính kéo đến càn quét, lục soát làng này. Quan bắt tất cả mọi người đến điểm mặt tại đình làng rồi đi lục soát tất cả mọi nhà. Cha Cố Tuyên rủ thầy già Toán đi ẩn trốn với ngài, nhưng thầy thưa với ngài: "Cha là linh mục nên cần phải đi ẩn trốn để giữ sinh mạng mà ban các bí tích cho giáo dân, những việc này con đâu có làm được".

Cha Già Tuyên may mắn trốn xuống hầm nên thoát nạn. Thầy Toán không kịp lẩn tránh, bị điệu ra trình diện. Thầy khai tên là Thi và ngồi chung với dân làng. Nhưng do sự chỉ điểm của ông lang Tư, quân lính tiến về phía thầy, kéo khăn trên trán ra và tri hô lên: “Tên sói đầu nầy đúng là đạo trưởng đây”. Về sau chúng biết thầy không phải là Linh mục, nhưng vì tội không chịu xuất giáo nên vẫn bắt giam thầy.

* Chuyện ngày nay, năm 2011

Hôm đó, trong thánh lễ chiều hằng ngày, cha chánh xứ loan báo tin buồn: trong giáo xứ có người mới qua đời, xin góp lời cầu nguyện. Cuối thánh lễ, bà con đọc kinh “Vực Sâu” để cầu cho linh hồn Phêrô. Cầu cho linh hồn Phêrô thì được rồi, nhưng tên người mới qua đời là Phêrô Nguyễn Văn Tài làm cho bà con thắc mắc. Tài nào?

Nếu là Tài trẻ thì tên chú ấy đúng là Nguyễn Văn Tài, nhưng mới tuần rồi chú ta vừa đứng ra lo tổ chức Đêm Trung Thu cho giáo xứ thì lẻ nào? Chú ta còn trẻ, còn rất khỏe mạnh, không biết chuyện gì đã xảy ra mà … Chắc là không phải, và cũng cầu xin là không phải, bởi chú ấy còn trẻ, chắc là khoảng 50, mà con lại còn nhỏ quá!

Còn hai Tài nữa, bà con bàn luôn: giáo xứ mình còn có hai Tài “già”. Tài già nào? Ông Trần Văn Tài thì ngoài sáu mươi rồi, nhưng ông ta còn khỏe như thần, có người dám nói: cọp vật ba ngày chưa chết thì chắc không phải là Tài này. Cách đây hơn một năm, trong nhà thờ, cha đã chúc mừng hai vợ chồng ông ta nhân kỷ niệm bốn mươi năm hôn phối, và cái điều chắc chắn hơn hết là tên thánh của ông ta là Đa Minh. Khác tên họ Trần với Nguyễn, khác tên thánh Đa Minh và Phêrô thì kể như không phải là Tài này, hú hồn cho ông ta!

Còn Tài nữa, tuổi cũng đã ngoài sáu mươi mà tên thánh là Phêrô, tên họ thì cũng là họ Nguyễn, như vậy là đúng rồi, còn ai vô đây nữa. Nhưng có điều nhiều người biết: ông ta về Việt Nam, mới trở qua tuần rồi, hôm Chúa nhật có đi lễ nhà thờ, hôm nay thứ tư, chẳng lẻ mới có ba ngày mà … lẹ quá vậy!?

Vậy thì là Tài nào? Cha cũng không có nói thêm cho rõ là quàng tại nhà quàng nào, chừng nào đọc kinh, chừng nào làm lễ phát tang, chừng nào có thánh lễ an táng tại nhà thờ, chừng nào và tại đâu? Theo thông lệ, mỗi lần trong giáo xứ có người qua đời, cha thông báo rồi là bà con canh ngày mở cửa nhà quàng, rủ nhau đến đọc kinh, cầu nguyện cho người chết và chia buồn với người còn sống, rồi đến ngày cử hành thánh lễ an táng, rảnh rổi người ta đến dự lễ để thêm lời cầu nguyện. Lần này, người chết tên là Phêrô Nguyễn Văn Tài nhưng mà là ai, nhà cửa ở đâu, mặt mũi ra sao? Rồi lại không có mở cửa nhà quàng, ai biết được Tài nào là Tài nào…

***

* Sau một tháng bị tra khảo, lần thứ nhất, chúng dùng một vị quan viên làng Trung Linh, cũng bị bắt với ngài nhưng đã bỏ đạo, để dụ dỗ ngài. Quan truyền cho ông phải dụ dỗ ngài bỏ đạo cho bằng được, nếu không ông cũng sẽ bị chung số phận với ngài. Vị quan viên này cùng với ba người khác thuê thêm lính đến than khóc, năn nỉ, van nài ngài bỏ đạo để họ khỏi bị chết. Những tiếng khóc kêu van thảm thiết của họ đã dằn vặt tâm trí ngài quá đỗi. Ngày 19-01-1840, quan lại truyền cho họ đến tiếp tục dỗ dành và kêu trách ngài thảm thiết hơn. Ngài động lòng thương hại muốn cứu mạng sống của những người này nên cuối cùng thầy đã đau xót đầu hàng chịu bỏ đạo, thầy đã bước qua Thánh Giá. Thế nhưng Tổng đốc Trịnh Quang Khanh vẫn chưa tha cho thầy về ngay, còn muốn thử xem thầy có thật lòng bỏ đạo không. Khi lính đưa thầy về ngục, cha Giuse Hiển đã ân cần nhủ khuyên thầy thống hối và tiếp tục tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa.

* Sau biến cố 1975, là sĩ quan thuộc chế độ cũ, anh đi “học tập cải tạo” như nhiều người khác. Trong lý lịch, về phần tôn giáo, anh không khai là người có đạo Công Giáo, ở mục tôn giáo, mà khai là “không tôn giáo”. Điều này không có gì hệ trọng vì khai trong lý lịch là “không tôn giáo” không có nghĩa là chối đạo. Anh đã lao động “tốt”. Với sức lực của người thanh niên, anh đã lao động vượt trội, được phong tặng “anh hùng lao động”, và sớm được cho về, về với gia đình còn đủ cha mẹ và các anh chị em. Ai cũng mừng mà lại cũng buồn vì anh quá lười biếng việc nhà thờ. Rồi để lo mưu sinh, anh theo bạn bè làm tất cả công việc gì mà anh và các bạn tìm được, để có tiền. Rày đây mai đó theo công việc, anh đã quá bận bịu, không còn có thời giờ để tham gia một công việc nào liên hệ tới đạo Chúa, để mà nhớ tới Chúa.

***

* Ngày 18.04, quan Trịnh Quang Khanh bắt hai người đã xuất giáo đến xúi giục thầy Toán, và dọa nếu không thành công sẽ giết cả hai. Những người này năn nỉ khóc lóc xin thầy thương kẻo họ bị chết, và họ nói nhiều lời phạm đến Chúa và Đức Mẹ suốt hai ngày liền. Để họ khỏi phạm thượng, thầy Toán một lần nữa lại bước qua Thánh Giá. Lần này, thấy mình quá dại dột để bị đánh lừa, thầy thống hối khóc lóc đêm ngày không ai ngăn cản được. 15 ngày sau, cha Đaminh Trạch bị bắt cũng được dẫn tới giam chung một ngục, cha an ủi và giải tội cho thầy. Từ đây thầy trở thành một con người mới, đủ sức đương đầu cách phi thường với những thử thách nặng nề hơn trước.

* Tuy không có nghề nghiệp gì vững chắc, anh cũng lo lập gia đình. Phần anh, anh sung sướng vì đã gặp được người anh thương, nhưng gia đình anh tỏ ra buồn: cô dâu của gia đình không phải là người cùng có niềm tin ở Thiên Chúa. Do tình, anh cương quyết và gia đình đành phải chấp nhận. Lễ cưới có tiệc tùng nhưng không có phép đạo. Gia đình có cháu và các cháu cũng không được rửa tội. Lớn lên, thỉnh thoảng tụi nó lại đi theo mẹ đến ... chùa. Cuộc sống của anh một lần nữa đã đưa đẩy anh quên Chúa.

***

* Một hôm viên quan khôi hài nói với lính: “Dẫn lão Toán ra đây để nó bước qua Thập tự, kẻo nó quên”. Nhưng ông hoàn toàn thất vọng, người chiến sĩ đức tin lần này gan dạ lạ lùng, dù bị tra tấn dã man, thày vẫn một lòng trung thành với đạo Chúa. Sau một trận đòn tưởng chết, quân lính lôi thày bước qua Thánh Giá, thầy liền vùng dậy quỳ phục xuống đọc kinh Ăn Năn Tội, quan giận dữ cho giam thầy nơi khác, bắt nhịn ăn, nhịn khát, và cho lính muốn bày trò hành khổ gì tùy ý.

Thế là quân lính liền lột hết quần áo thầy, buộc hai Thánh Giá nhỏ vào hai bàn chân, bắt phơi nắng 13 ngày liền không được ăn uống gì cả. Khi thấy thầy rơi vào tình trạng đói cực độ, người như lả đi, quan Trịnh Quang Khanh âm mưu cho dọn một mâm cơm rượu thịt thơm ngon và nói: “Ăn đi, rồi bước qua Thập tự”. Nhưng vị anh hùng đức tin thà chết đói hơn là phải bỏ đạo, thầy nói: “Nếu ăn mà phải xuất giáo, tôi không bao giờ ăn cả”. Cuối cùng do sức yếu lại bị tra tấn và nhịn ăn uống, ngài đã chết rũ tù ngày 27 tháng 6 năm 1840, không còn bị hành hạ bởi đói no.

* Hai tháng trước khi bài này được viết, một hôm tự nhiên anh ngả quị, phải đưa vào bệnh viện, lúc mê lúc tỉnh. Cuộc khám nghiệm, như những lần trước, cho biết anh còn vướng tiểu đường, lao phổi, và các chứng bệnh khác nữa. Không như những lần trước, lần này tình trạng của anh nguy kịch hơn. Người em gái đang sống ở Texas đã vội gọi điện thoại nhờ cha phó xứ giúp đỡ. Cha phó xứ báo cho ban “xã hội” và ban “mục vụ bệnh nhân”. Anh em vội vàng đi thăm. Thấy có vẻ “thiếu một cái gì”, anh em đem vào cho anh một xâu chuỗi, đặt vào tay anh để anh có được “một cái gì” mà bấu víu. Anh em cũng đem vào phòng một cây thánh giá để trên bàn, cạnh giường anh nằm, để thỉnh thoảng, khi nào tỉnh, anh có dịp nhìn lại “ảnh Đấng cứu chuộc”. Cha cũng nhanh chóng vào thăm anh. Cha đến nắm tay anh. Anh ráng nhướng mắt lên nhìn cha, đôi mắt nhìn yếu ớt. Cha cười với anh. Anh ráng nhếch môi để gượng cười, đôi môi tím lịm. Cha xức dầu cho anh. Mắt anh nhắm lại.

Cha làm tuyên úy trong bệnh viện nên ngày nào cha cũng có dịp ghé thăm anh. Cha vào phòng, cùng đọc với anh vài ba kinh. Trước khi ra khỏi phòng, cha lấy xâu chuỗi đặt lại ngay ngắn vào tay anh cho đến một hôm… Hôm đó, cha vào thăm anh, cha để ý thấy ngón tay anh đã có sự thay đổi vị trí trên các hạt chuỗi: hôm qua tay anh đang ở vị trí của đầu chuổi, mà hôm nay đang ở giữa chuỗi. Hôm đó, khi cha vào thăm anh, mắt anh mở sáng. Miệng anh bập bẹ được tiếng: “cha!” Anh ra dấu, cha hiểu ý. Cha kéo ghế ngồi xuống cạnh giường anh. Anh xưng tội lần sau hết, xâu chuỗi lần vẫn luôn còn trong tay anh…