Còn nhớ

Nhớ là tiếng, chữ mà nhiều người nói là khó định nghĩa.
Nhớ được hiểu là tưởng nghĩ đến một sự việc đã qua, đã xảy ra rồi. Nhớ được hiểu là tưởng nghĩ đến một người đã biết, đã gặp giờ đang cách xa mà mình ao ước được gặp lại. Nhớ được hiểu là thấy người này, nghĩ đến người khác, gặp chuyện này nghĩ đến chuyện khác.
Ta nói là nhớ khi gặp người này liên tưởng tới người khác, gặp đứa con rồi nói sao giống bố nó quá, đó là ta nhớ người. Vui Tết này ngồi buồn nghĩ đến những Tết xưa mà khi đó, còn trẻ, ta vui vẻ đón nhận những bao lì xì, chạy nhảy tung tăng, còn bây giờ ta, luống tuổi rồi, ngồi yên một chỗ lì xì cho con cháu, đó là ta nhớ đến chuyện xưa.
Nhớ cũng còn là biết. Như việc học Toán, chuyện đã xảy ra bao nhiêu năm rồi, nay nói rằng còn nhớ nghĩa là còn làm được các bài toán đã học, nhớ lại và làm được, nhờ vậy có thể giúp con cháu. Còn như cái việc học chữ Nho (Hán), cũng rất là xưa, đến nay còn nhớ là có thể đọc được, hiểu được chút đỉnh. Nhiều vị có biết nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn, ở trên mặt tiền nhà thờ, có mấy chữ: “Thiên Chúa Đường”, ghi bằng chữ Nho. Thấy mấy chữ này, còn đọc được là vì còn nhớ, vì nét chữ đơn giản, vậy mà rồi lại nhớ thêm: Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương.

玉    主     王    
(ngọc chúa vương)

Nhớ cũng còn là chuyện … nhớ, không quên. Kinh kệ đã học mấy mươi năm rồi, bây giờ không cần nhìn trong sách, vẫn đọc theo ào ào khi nghe người ta đọc. Những kinh đó đã thấm nhuần trong trí óc, đã đọc bao nhiêu lần rồi, nay nghe người ta đọc, đọc theo một cách ngon lành, chỉ trừ những người đã biết nhưng không thường xuyên đọc nên lâu ngày chày tháng mới không nhớ và thấy kinh nào cũng lạ.
Cũng chuyện nhớ này, có anh nọ vào nhà thờ, nhảy tọt vô ghế ngồi, ngồi cho khỏe chân. Cha ra bàn thờ cử hành thánh lễ, anh thấy cái gì cũng … lạ. Hỏi tới “lý lịch” thì anh cho biết: tôi là người có đạo, đã có rửa tội, có …, có đủ thứ vậy mà hỏi tới Chúa Bà, hỏi tới việc nhà thờ nhà thánh, anh không nhớ được mảy may tí nào! Có người trách: có giữ đạo đâu mà nhớ!
Nhớ là chuyện của trí óc, là chuyện thầm kín bên trong. Nên khi ai nhớ ai, làm sao mà ai biết được ai nhớ ai, nhớ cái gì. Còn khi nói ra là nhớ thì làm sao mà biết được có nhớ hay không để mà … tin. Tiếng “nhớ”, như vậy, được dùng để nói tới chuyện đã xảy ra rồi, còn đang được giữ kín.
Và chuyện nhớ ở đây, không phải là tôi nhớ, nghĩa là không phải là chuyện của tôi mà là chuyện của người khác. Nhưng làm sao mà biết được người khác đang nhớ? Tại vì tôi thấy người khác đang làm, làm chuyện giống như hồi xưa tôi đã làm, mà ngày nay ít thấy. Người khác nhớ, tôi nghiệm.

***

Chị đi đến nhà thờ, bước vô nhà thờ một cách bình thường. Nhiều người nhìn chị một cách bình thường, bởi vì hôm đó là chiều thứ bảy, nhiều người đến nhà thờ để làm nghĩa vụ với Chúa. Nói vậy chớ cũng có người tỏ vẻ ngạc nhiên. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, anh ta nhìn tôi rồi cười nói:
- Anh ngạc nhiên hả?
Tôi không thèm trả lời trực tiếp mà hỏi lại:
- Bộ anh không ngạc nhiên hả?
- Không, tại em biết chuyện.
- Sao lâu nay không nghe anh nói?
Anh cười trừ, rồi nói:
- Thì có biết bao nhiêu chuyện như vậy, nên em nghĩ là em không cần nói ra. Mà nói ra để làm gì?
Câu hỏi ngược lại của anh, khó trả lời quá! Mà thiệt, nói ra để làm gì khi mà không cần phải nói ra.
Tôi đã ngạc nhiên vì tôi đã “thấy” chị lần khác, tại một nơi khác. Lần đó, tôi đã thấy chị quỳ như bất động, trước bàn thờ trong chánh điện. Cách ăn mặc của chị cho thấy chị có mối liên hệ đặc biệt với người chết mà ngày hôm ấy là lễ cầu siêu giáp 100 ngày: chồng chị chết. Chị đã “đọc” kinh một cách rất thuần thục. Chị đã lạy, đứng lên quỳ xuống một cách rất quen thuộc.
Trong số những người đến dự lễ cầu cho người quá cố, chúng tôi là những người làm việc chung. Làm việc chung còn có nhiều người khác, nhưng nhóm tôi là những người thuộc “nhà thờ”. Và người anh em được nói đến trên đây là trưởng ban xã hội của giáo xứ, nên anh có dịp biết nhiều chuyện, nhiều người. Hôm đó anh cũng có dự lễ.
Tính ra từ ngày mà chúng tôi thấy chị ở chùa đến hôm nay thấy chị ở nhà thờ, thời gian cách nhau không đầy ba tháng, lẻ đâu trong khoảng thời gian quá ngắn như vậy mà đã có thể có sự thay đổi lớn, mà cha lại cho phép chị “gia nhập” đạo một cách quá nhanh chóng, dễ dàng. Người ta, ai cũng phải qua một quá trình học “lớp dự tòng” kéo dài trong nhiều tháng, qua nhiều giai đoạn, qua nhiều nghi thức. Chịu không nỗi, tôi đã phải hỏi anh ta:
- Sao mà …
Chưa hỏi hết câu, chưa nói ra hết ý, anh ta đã:
- Để em nói anh nghe. Em đã nói chuyện với chị ấy nhiều lần. Em cũng đã hướng dẫn chị đến nói chuyện với cha.
- Rồi sao?
- Thì như anh đã thấy, cha không làm gì được, chỉ khuyên chị cầu nguyện, và cha cũng hứa cầu nguyện cho chị…

***

Theo dòng người bỏ nước ra đi, chị được đến bến bờ tự do bình yên, với hai đứa con, nhưng … Theo thông thường, những chữ “nhưng” thường đem lại những điều đối nghịch, những điều không thuận lợi. Nếu không có chữ nhưng, chắc là chị đã không muốn bỏ đất nước ra đi. Bởi sau khi lên đường đi tìm tự do, chị được tự do này nhưng lại mất đi một thứ tự do khác.
Bơ vơ nơi xứ người, người giúp đỡ, cho chị và mấy đứa con có nơi nương tựa là người chị mang nhiều ơn nghĩa nặng, chị phải đáp đền. Hai đứa con được lo cho đi học. Chị có công ăn việc làm để phụ lo cho gia đình mới. Cuộc sống trở nên bình yên và bình thường. Thỏa thuận ban đầu là “đạo ai nấy giữ” lần lần trở nên theo một chiều, do danh giá của gia đình. Vì con, chị chấp nhận cảnh sống cười trong nước mắt. Trong thời gian này, thỉnh thoảng khi có dịp, chị có ghé lại nhà thờ. Chị vào nhà thờ, đứng đâu đó nhìn lên bàn thờ rồi cứ nhìn đồng hồ, rồi “biến” đi, không ai hay biết, không ai chú ý!
Những lúc chị ghé vào nhà thờ thì nhiều người cũng như tôi, không thấy, nên không biết. Chị ít năng lui tới nhà thờ nên ít người biết chị, nhưng những người bên chùa thì biết chị nhiều hơn. Nhưng hôm lễ ở chùa thì có một số người thấy, và qua cung cách của chị, ai cũng nghĩ rằng chị là một Phật tử, nghĩa là người theo đạo Phật. Nhưng đó cũng là chuyện bình thường, tôi không cảm thấy xa lạ vì với chị cũng như với bao nhiêu người khác, người đạo này người đạo khác. Rồi cuộc sống lại không bình thường, chồng chị đau bệnh “nặng” và qua đời. Tình đồng hương đã đưa chúng tôi đến thăm viếng ở lễ an táng và lễ cầu siêu100 ngày, và từ đó đi từ ngạc nhiên đến ngạc nhiên.

***

Sau khi chị “trở lại”, tôi thấy chị đi nhà thờ thường xuyên. Anh bạn tôi mới từ từ tiết lộ ít chi tiết về chị:
- Chị ấy là người đạo gốc như anh em mình! Chịu phép Rửa Tội, hay Rước Lễ vỡ lòng, chịu phép Thêm Sức là những chuyện thường, chị ấy đã lập gia đình hồi còn ở Việt Nam, và đã có hai con. Chị đã tham gia các hội đoàn và giữ đạo rất tốt.
Từ sau ngày trở lại nhà thờ, chị đã thường xuyên sinh hoạt với nhà thờ. Cái thường xuyên của chị được tính theo cái thường xuyên không mấy đều đặn của tôi. Tuy vậy, những lần tôi thấy chị đến nhà thờ làm cho tôi có ít nhiều suy nghĩ về chị. Một điều mà tôi nhận thấy là chị vẫn còn nhớ, còn nhớ được những cái đã ăn sâu trong đầu óc chị. Những cái đó chắc là chị đã “nhập” từ lâu lắm, nay có dịp đem ra để chứng tỏ rằng chị là người đã có giữ đạo một cách đàng hoàng từ lâu, mà gần đây không “được” giữ đạo, để cho thấy là chị vẫn nhớ.
Điều quan trọng là chị nhớ, và chị có làm. Nếu có biết, có nhớ, mà không làm thì là chuyện khác…
Nội cái việc mỗi khi bước vào nhà thờ, chị đi ngay đến “chậu” đựng nước thánh, chấm tay vào, rồi làm dấu thánh giá. Xong rồi, chị đi ngay vô nhà thờ, bái gối, rồi vào tìm chỗ quỳ. Quỳ xong, chị làm dấu Thánh Giá, rồi hai tay chống tựa trên bàn quỳ, đầu hơi cúi xuống. Những động tác của chị xem ra thật là cổ kính, thật là xưa. Những động tác đó của chị làm cho ai nhìn vô thấy nhớ lại hình ảnh, những cung cách của người giáo dân của thời xưa. Những động tác đó ít được thấy ngày nay.
Nhiều người, sau khi vào đến tiền đàng nhà thờ, lo tìm chỗ tìm người để nói chuyện. Rồi dù là cha không có yêu cầu, vì chúng tôi chưa hề nghe cha chính thức loan báo, cha vừa đi lên bàn thờ thì nhiều người cũng vào theo, đi theo sau cha như để làm thành một đoàn rước.
Nhưng chị thì không, chị đi ngay vô bên trong nhà thờ, bởi hồi xưa cha sở và các sơ có dạy: đến nhà thờ là để thờ phượng Chúa, phải lo vô nhà thờ ngay, nói chuyện thì lúc nào không được. Chị bái gối, đầu cúi xuống, để tỏ lòng thờ kính Chúa, bởi hồi xưa cha sở và các sơ có dạy: phải thờ kính Chúa trên hết mọi sự. Chị bước vào ghế quỳ, quỳ xuống, làm dấu và đọc kinh trong khi nhiều người khác còn đang “tận hưởng” ở bên ngoài những phút còn lại để chuyện trò trước khi thánh lễ bắt đầu, bởi hồi xưa cha sở và các sơ có dạy: ta đâu có nhiều giờ để mà thờ phượng Chúa. Chị rút xâu chuỗi lần trong túi ra, đọc kinh để cầu nguyện, bởi hồi xưa cha sở và các sơ có dạy: phải luôn luôn kêu cầu Mẹ Maria. Chị đã tỏ ra còn nhớ rất nhiều, cho dù chị đã không được “giữ” trong thời gian qua. Tuy không giữ, nhưng chị vẫn còn nhớ. Người xướng kinh “bắt” kinh nào, chị đọc kinh đó. Ca đoàn hát bài nào, chị hát theo bài đó, nhất là khi hát những bài hơi xưa. Như vậy là chị còn nhớ rất nhiều. Những điều chị nhớ là những điều chị đã được dạy ngày xưa, để sống đạo và giữ đạo.