Cũng còn đây

Lần nào cũng vậy, mỗi khi về thăm nhà, sau khi đã gặp lại anh em sau lễ sáng, cà phê cà pháo xong, tôi canh giờ để đi đến nơi anh “làm việc”, lúc anh đang “thi hành phận sự.” Lần này, đi đến nơi, tôi cảm thấy có một cái gì xót xa. Tôi thấy một “ông già”, tóc tuy chẳng trắng bạc phơ mà chỉ hoa râm, nhưng cái lưng “còng” làm như ông đang khom gập người xuống. Tôi đứng khuất sau cây dầu bên hông nhà thờ để lén nhìn ông: lưng tuy còng nhưng dáng đi cũng còn nhanh nhẹn. Với những người chưa quen biết ông thì người ta sẽ chỉ nói đó là một ông già, một cách đơn sơ, nhưng với tôi thì khác, tôi nhìn ông mà trong lòng có một ý nghĩ: người bạn năm xưa đã phải chịu thần phục trước ách thời gian!

Nhìn anh đi qua đi lại, tôi chợt nhớ đến hai câu thơ đã có lần đọc được ở đâu đó:

Bà cụ lão khom mình bên miếu cỗ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau

Nhưng với anh, tôi biết mấy câu loại này không làm anh thấy thấm thía vì anh không hiểu rõ, mà phải là:
Le dos courbé en deux sous le poids des ans

(tạm dịch: lưng gập làm đôi dưới sức nặng của tháng năm)
Và như vậy là, Tây với Ta cũng đều có chung một ý nghĩ:
Cũng tại thời gian để bước vào!

***

Tôi biết anh nhớ tôi nhiều lắm. Sau cái bắt tay thật chặt, rồi gụt gặt vài cái, anh kéo tôi vào để anh ôm, một việc mà không mấy khi anh làm với ai khác. Hai anh em ngồi xuống băng ghế đá ở núi Đức Mẹ để bắt đầu với mấy câu nói bâng quơ:
- Từ bữa biết được tin chú sắp về, tui cứ trông và nhắc tới chú hoài.
Rồi như sực nhớ chuyện gì quan trọng lắm, anh hỏi:
- Nảy giờ đọc kinh Đức Mẹ chưa?
- Còn phải đợi anh nhắc!
- Chú đọc hồi nào tui không thấy?
Tôi phải giải bày:
- Vừa thấy núi Đức Mẹ, thấy tượng Đức Mẹ là tôi đọc liền.
Anh lại chêm vô:
- Tới nhà phải lo chào chủ nhà chớ chú!
- Lúc rày anh cũng còn lo núi Đức Mẹ?
- Còn chớ chú! Chừng nào mình còn đi đứng được là mình còn phải lo việc nhà Chúa! Với lại chú cũng thấy, không làm việc nhà thờ thì tui làm gì bây giờ?
Rồi anh “dạy”:
- Ăn ở không dễ hư người lắm.

Tuy thật tình nhưng không thiếu vẻ khách sáo, tôi khen anh:
- Có anh, núi Đức Mẹ thiệt là tươm tất.
Anh nhắc lại để giải bày:
- Chú cũng nhớ, Đức Mẹ đã ban ơn cho tui quá nhiều. Giờ để đền ơn, tui ra công săn sóc nơi thờ kính Đức Mẹ.
Anh phân trần:
- Chú biết không, nhiều người ganh với tui. Họ nói sao mà tui có thể lui cui làm tối ngày.
Anh cười tiếp:
- Tui làm được vì tại chú cũng thấy, tui có quá nhiều thời gian. Tui không còn phải đi làm để kiếm miếng cơm, giờ rỗi rảnh mình làm việc nhà Chúa, để lo có sẵn cái passport. Cho nên, ai làm được, tui mời tới chung lo với tui. Ai không tới được, thì cũng còn có tui, tui không dám trách. Người ta không tới làm được là tại ..
- Là tại sao?
- Là tại người ta không tới được. Mỗi người có một hoàn cảnh, người lo việc này, người lo việc khác. Nếu tất cả mọi người đều đến đây để làm thì còn đâu chỗ cho tui làm, còn đâu ai mà đến đây để đọc kinh, phải không chú?
“Ừa” là cách hay nhất để đáp lời anh. Thấy vậy, anh tiếp:
- Cho nên
- Tôi về lần này tưởng
Anh vội chen lời:
- Tưởng là không còn gặp tui nữa phải không?
Anh nói luôn:
- Cũng phải rán còn lại đây để gặp lại chú một lần nữa chứ!

Ở đây, tui làm sạch sẽ nơi tôn kính Đức Mẹ, để bà con có ghé đọc kinh đọc kinh, người ta thấy thoải mái, thích trở lại và ở lại lâu. Với lại, ở đây hễ rảnh tui đọc kinh cùng Đức Mẹ, nó yên tỉnh dễ đọc kinh, chớ còn ở nhà, đi ra đi vô, nghe ba cái radô, khó cầm lòng cầm trí.

Anh cười nói:
- Ở đây, không khí mát mẻ, có bóng cây che mát, lo đâu đó xong xuôi, sạch sẽ rồi tui đọc kinh. Có tui ở đây, kinh đọc cho Đức Mẹ được liên tục
- Là sao?
- Là kinh được đọc liên tục không ngừng
- Rồi lúc anh về nhà rồi thì sao?
- Ờ thì …

***

Gặp nhau ở đây là để tạm thời chào hỏi, anh đưa tôi đi về nhà, đó mới chính là nơi để hai anh em tâm sự cho thêm phần ấm cúng. Tới nhà anh, lần nào cũng vậy, tôi thường hay xin mấy cây nhang để đốt nơi bàn thờ Chúa, xong nơi bàn thờ ba má hai bên của anh, và bàn thờ của vợ anh. Điều này làm anh rất là vui thích. Anh khen tôi:
- Đi lâu rồi mà lần nào chú về, tui cũng thấy chú còn đầy đủ nét dân tộc.
Rồi anh đi lấy “bộ đồ nghề” gồm một chai và hai cái ly nhỏ ra, chưa uống nhưng anh đã xuất khẩu thành thơ:
- Nhân bất tửu bất thành tri kỷ, phải không chú?
Tôi chỉ biết “ừa” để đáp lời anh. Theo thói quen lịch sự ở đời, anh hỏi thăm chuyện gia đình tôi nơi xứ người. Hỏi xong chuyện về vợ tôi, anh biểu tôi nâng ly để chúc mừng. Hỏi xong chuyện mấy đứa con tôi, anh nhắc tôi nâng ly để chúc mừng. Hỏi thăm công việc làm của tôi, tôi lên tiếng trách:
- Ở tuổi này mà làm gì nữa anh, bộ anh quên rồi hả?
Anh không nhận “tội” mà giải thích:
- Biết! Tui biết chú về hưu rồi, nhưng ý tui muốn hỏi là chú có làm gì không để qua ngày qua tháng, chẳng hạn như có làm vườn làm tược, có chơi thể thao như hồi xưa ở đây không, hay có tham gia hội đoàn nào ở trong họ đạo không? Chớ già rồi mà không có hoạt động nó mau già lắm.
Nói tới chuyện này chuyện nọ, anh kể: Bữa đó, cha sở đi đâu xóm đàng sau này, về ngang núi, cha ghé vô rồi ngồi xuống ghế đây với tui. Cha hỏi:
- Lúc rày ông sáu khỏe không?
Tui thiệt tình:
- Dạ con cũng còn đi đứng được. Ăn ngủ được là thấy khỏe rồi.
Cha nói:
- Làm như vầy ông sáu có thấy mệt không?
Tui phân tích cho cha nghe:
- Công việc của con thuộc loại “làm không động móng tay” mà mệt gì cha. Trước đây mấy người phụ trách núi phải xách nước ở giếng bên nhà chú từ, rồi cầm chổi quét lá rụng ở sân. Chớ con bây giờ, nước thì có nước máy, chỉ việc cầm dây tới mỗi gốc cây chừng mươi mười mấy phút là mấy chậu cây, chậu bông ướt đẫm hết.
Tui tiếp:
- Còn ba cái lá rụng thì con có máy hút máy thổi, có nặng nhọc gì đâu. Ngặt một cái là mình dọn sạch hết xong thì lá lại rơi xuống, nên công việc có hoài.
Nghe tui trình bày công việc, cha có vẻ yên chí, nhưng cha cũng hỏi thòng thêm:
- Nhưng mà ông sáu đâu có còn đây hoài.
Nghe vậy, tui giẫy nẫy:
- Cha khéo lo!
Bị chú biết không? Cha sợ tui mà “đi” rồi thì không biết ai sẽ tiếp tục làm công việc của tui. Tui cho cha biết:
- Cha yên tâm! Mấy trào cha sở trước thì cũng vậy, không khi nào thiếu sót. Bên trong nhà thờ thì có người lo bên trong. Bên ngoài này thì lo săn sóc núi Đức Mẹ, luôn luôn có người, kế tiếp nhau mà lo …

***

Kể tới đó, anh nói tiếp để cho thấy sự liên tục của công việc. Anh trình bày cách nhìn cuộc đời của anh: cuộc đời luôn có “thượng trung hạ” mà anh ví đời trước, đời này, và đời sau.
Anh giảng giải:
- Thượng trung hạ tui nói đây không phải theo kiểu như nhiều người đã học: thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, trung tri thiên hạ mà ý tui muốn nói đến lớp người trước mà tui gọi là lớp thượng, lớp người còn sống hiện tại là trung, và đám trẻ mai sau này là hạ.
Đời trước thì đã qua rồi như ba má tui hay vợ tui thì thuộc lớp “thượng”, lớp người đã đi qua rồi. Những người này đã sùng kính Đức Mẹ. Hồi tui còn nhỏ, mới từ Pháp về, chiều đi làm về, tui thường ghé núi Đức Mẹ thì hồi đó cũng đã có người đứng ra lo săn sóc núi Đức Mẹ. Hồi đó tui nhớ có ông Tư C., ông làm đâu cũng bảy tám năm gì đó rồi … từ bỏ. Rồi kế tiếp cũng mấy người, người thì vì chuyện gia đình phải rút lui không thể tiếp tục được nữa, người thì cuộc đời bắt phải nghỉ. Tới tui, tui lo núi Đức Mẹ từ sau 1975, tới nay cũng gần 40 năm mà chưa có ai, hay chưa bị bắt nghỉ, nên cũng còn đây!!!
Tui nay cũng đã luống rồi mà mình còn đây nên thuộc vào lớp “trung”, lớp này gồm tất cả những người đang còn sống lại đây. Không tính tui ở đây, tui thấy những người sùng kính Đức Mẹ cũng đông. Ngày nào tui cũng chú ý những người đến đây để đọc kinh. Có người vào bên trong, ngồi trên các băng ghế đá để đọc kinh. Có người đứng bên ngoài hàng rào, nhưng mà cũng là để đọc kinh. Cũng có người đi ngang rồi … đi luôn, vậy mà cũng ngoái cổ nhìn vào núi Đức Mẹ, miệng lép nhép. Tui cũng còn thấy những người tôn sùng Đức Mẹ.
Thấy nếu để anh kể hết biết đời nào mới xong, tội thúc anh:
- Vậy chớ còn lớp “hạ” là ai?
Như đã có sẵn trong “sách bụng”, anh nói liền:
- Là những đám trẻ bây giờ
Tôi không chịu được:
- Đám trẻ đó thì cũng là lớp “trung” như mình chớ sao anh xếp vào lớp “hạ”, vì họ cũng đang sống như mình!
Anh không chịu:
- Đám đó thì cũng đang sống như mình nhưng mà họ trẻ hơn, sống lâu hơn, sống sau mình nên khi đám tụi mình mà “đi” rồi thì họ sẽ tiến lên thay thế.
- Mà biết chừng nào anh đi?
Anh nín thinh!

***

Đó là những chuyện mình không biết trước được. Chỉ thấy là lần này về thăm quê hương, cũng còn gặp lại được một số anh em, và anh cũng còn đây. Niềm vui là thấy anh vẫn còn làm công tác nhà thờ. Nhiều người đã khen anh đủ điều, khen anh siêng năng, khen anh cẩn thận, làm kỹ lưỡng tất cả mọi việc. Vả lại, anh lại có tánh mời mọc người tham gia, phụ với anh. Anh chủ trương: đây đâu phải là việc của riêng ai: nhiều tay vỗ nên bộp mà! Có lần anh khuyên tôi: đừng bao giờ nghĩ là chỉ có mình mới làm được, không ai làm bằng mình. Đó là những điều tôi thích ở anh. Cầu xin ơn trên phù hộ anh trong những ngày cuối đời.