Cũng tên gọi này

* Theo như ba tôi kể lại, ông bà tôi gốc ở vùng Bình Long, Lộc Ninh đã nhiều đời và chuyên nghề làm rừng, xưa hơn nữa thì không được biết. Sau khi rời vùng nước độc Lộc Ninh này, ông bà tôi đi lần về phía nam, gặp đâu thuận lợi thì dừng chân lại, tiếp tục lập nghiệp, và đổi nghề. Làm rừng là nghề đi đốn cây, để đổi cây lấy gạo, lấy tiền. Nghề làm rừng này không phải là kiếm củi để làm bếp mà là làm cây lớn, loại cây để làm nhà, đóng bàn đóng ghế, rất nặng nhọc. Cây được đốn ngả xuống rồi, từ trong sâu phải kéo-lôi-đẩy cây ra phía bìa rừng để “lái” tới lấy cây đem đi. Họ có xe, họ đem cây về thành phố bán với giá “trên trời”, còn mua của mình, họ mua với giá “dưới đất”!

Công việc làm ăn được phân biệt. Đàn ông trai trẻ, khoẻ mạnh thì đi làm rừng. Công việc này nặng nhọc và nguy hiểm. Việc hạ một cây to đòi hỏi sức khỏe, kinh nghiệm để tránh những tai nạn có thể xảy ra, và còn phải canh chừng … thú dữ. Để đốn một cây to, thường phải qui tụ người của vài gia đình, để phụ nhau.

Phụ nữ hay trẻ chưa trưởng thành thì ở nhà, có những việc nhẹ nhàng hơn, như làm rẫy làm ruộng. Những người thuộc lực lượng “mạnh” cũng dành một ít thời gian để lo “làm đất”, làm những việc nặng như cày bừa. Xong, những việc còn lại có vẻ nhẹ hơn như gieo mạ, cấy và khi chuyện đã thành, gặt lúa thì phụ nữ và tốp trẻ làm được thì những người này làm những việc này. Việc cấy cày thì có lúc có thì, nên thời gian còn lại thì lo làm rẫy, trồng rau cải để có thức ăn. Còn có thời gian nữa thì đi ra suối, ra ao để câu cá. Cá ăn không hết thì muối để làm khô, làm mắm. Thỉnh thoảng người lớn đi săn hay đánh bẩy lại có được thịt rừng như nai, mển, heo rừng, hay bẩy chim. Ngoài ra còn nuôi gà vịt để có thêm thức ăn và lợi tức cho gia đình.

Làm việc trong rừng sâu thì có xóm làng, có bà con nhưng không có chợ búa. Nhà cửa thì cách xa nhau, muốn gặp nhau thì réo hoặc chịu khó đi tới nhau. Mỗi lần cần cái gì ở dưới chợ thì hẹn nhau, làm thành đoàn hai ba chiếc xe bò đi xuống chợ, và là những chuyến đi có hẹn trước. Việc đi lại khó khăn như vậy nên được đi xuống chợ thì thật là sung sướng, vì sẽ được thấy nhà cửa và … người ta, và những người mới. Điều đặc biệt nữa là mỗi khi đi xuống chợ là sẽ có được bánh ăn.

Đó là chuyện chung của những người trong xóm làng. Trong nhà tôi, chúng tôi có ba anh em. Anh tôi tên Dũng, tôi tên Ngoan, em gái tôi tên Hiền. Ai mà không có cái tên? Không có tên thì làm sao mà gọi, mà kêu? Ít ra cũng có cái thứ, thứ tự trong gia đình. Tôi có đủ. Vì là người con thứ hai trong gia đình, tôi được gọi là thằng ba, theo cách gọi của người miền Nam: đứa con đầu thì gọi là thứ hai. Cái tên bằng thứ tự này không thay đổi, dẫu cho có người con nào ngang xương “ra đi” thì cái “tên thứ” này vẫn được giữ, không thay thế hay đôn lên.

Cái “tên thứ” này không có ghi trong giấy tờ “tùy thân” mà chỉ để gọi nhau, để nhận ra nhau, để phân biệt đứa trước đứa sau trong nhà, và còn để biết trong nhà người ta có tất cả mấy người con. Vậy là trước sau, tôi có được hai cái tên.

Kiểm lại thì những người bà con hay quen thân với gia đình thì gọi tôi là “thằng ba” vì tôi là đứa con thứ hai trong gia đình. Người trong làng cũ thì gọi tôi là Ngoan theo như tên ba má tôi đặt cho tôi. Khổ nỗi là mấy ông làng ông xã nghe tên rồi ghi làm sao không biết mà khi đi học, tên trên giấy tờ của tôi trở thành là … Ngon. Biết làm sao mà sữa, ba má tôi nói: Thôi cũng được! Tên Ngon nghe cũng … ngon!

***

Cuộc sống tuy vất vả vậy mà chưa hết nỗi khổ. Trên rừng sâu không có chánh quyền, lâu lâu lính Tây đi hành quân, bao nhiêu tai nạn đến với dân làng. Trai trẻ phải lo trốn để khỏi bị “bắt lính”. Bị bắt, Tây chỉa súng dẫn đi theo họ về thành để đi lính cho họ. Khi bắt được ai rồi, họ làm giấy tờ, bắt khai tên họ: tên gì, bao nhiêu tuổi. Dưới 16 tuổi thì cho đứng ra một bên. Do tình trạng này, nhiều người cứ … 16 tuổi hoài. Bởi lần này, họ tới nhưng lần sau tốp khác tới thì “có ai biết ai” nên mình cứ khai, khai sao cho có lợi, tới chừng bộ mặt đã có vẻ “già” quá thì mỗi khi “Tây tới”, phải rút sâu trong rừng trốn. Và cái tên cũng vì vậy mà thay đổi.

Hết vụ Tây tới thì có cái vụ Việt Minh về. Việt Minh cũng ở sâu trong rừng như thường dân, có khi còn sâu hơn. Thỉnh thoảng “mấy ông” lần về để “thăm” bà con, xem xét coi nhà nào có người đi lính Tây. Mấy ông cũng có sổ sách, ghi tên mọi người. Lại là dịp để có thêm một cái tên.

Và tôi nghiệm, ở đời cái gì cũng có cái cùng. Cái cùng đây là cái cuối, cái cùng tận, hay nói văn hoa là hồi kết cuộc. Dạo đó, Tây biết đường lên đây rồi. Họ kéo lực lượng lên đây thật đông không biết để làm gì, chỉ nhớ được là hôm đó, người đâu mà là người rồi … hai bên đánh nhau. Đánh nhau, họ có súng có ống, còn dân thường, ở giữa, chỉ biết lấy hai tay ôm đầu mà né đạn. Cho nên, qua cơn rồi, bà con tính với nhau rồi trốn tránh, thu gom tài sản về thành mà sống.

***

Vì đã có dịp về thành nên khi về thành sống, tôi không xa lạ gì cảnh của thành. Cái điều khác là ở đây có nhiều nhà bằng gạch bằng ngói. Đường đi có tráng nhựa và ngay thẳng chớ không gập ghềnh, lồi lỏm, khúc khuỷu như ở trên rừng trước kia.

Cuộc sống của tôi cũng trở nên có qui củ hơn. Tôi phải sống theo giờ theo giấc. Lúc đầu có vẻ khó chịu nhưng riết rồi cũng quen. Tuy cũng có tuổi rồi, tôi bắt đầu đi học. Học trường “Nhà Nước” thì “xô bồ xô bộn” quá, ba má tôi quyết định xin cho tôi đi học ở trường nhà thờ. Học ở đây, cái gi tôi cũng nhất hết. Lớn tuổi nhất. Cao nhất lớp. Học dỡ nhất lớp. Nhưng không sao! Tới giờ tôi vẫn nhớ và mang ơn “dì năm” bà thầy dạy lớp tôi. Ở đời sao mà có người dễ thương lạ lùng, khi nhớ lại tôi như vẫn còn nghe tiếng nói êm ái của dì bên tai tôi. Tôi còn nhìn thấy được dáng đi, gương mặt dịu hiền của dì. Tôi nghĩ, nếu tôi đã không gặp dì những ngày đầu đi học đó, chắc là tôi không được như bây giờ, đã trở thành … gì tôi không biết.

Mấy người bạn cùng lớp nhưng không cùng tuổi, học chung nhưng không học … dốt như tôi nên không được ưu ái như tôi. Tôi được một dì chăm sóc đặc biệt riêng, nhờ vậy sau một năm học, tôi được học chung với các bạn đó. Tại sao dì tốt quá như vậy? Tại sao dì lại có thể cư xử như một bà tiên hiền như vậy? Sau này, sau sau này tôi mới tìm được câu trả lời khi nghe một cha giảng nên tôi có câu kết luận: tại vì dì có Chúa ở trong người! Tại vì tuy nhiều người có đạo nhưng chưa thực sự có Chúa, mà dì có!

Tuy gọi là thành, làng nơi gia đình tôi dọn về sinh sống là một thành phố nhỏ. Nhà cửa không nhiều lắm. Người dân sống ở đây cũng không đông lắm nên chỉ sau một thời gian ngắn, tôi đã biết được gần hết những người trong thành. Cũng dọn về đây, một số người ở làng cũ cũng về đây nên khỏi cần làm quen khỏi cần giới thiệu, “chúng tôi” đã biết nhau, mỗi khi gặp nhau thì cứ theo tên “quen biết” cũ mà gọi.

Gia đình tôi gốc là đạo thờ ông bà, thỉnh thoảng ba má tôi dẫn anh em tôi đi chùa. Riêng tôi thì thường theo đám bạn học đi … nhà thờ, ở đó mỗi lần lễ ra là tôi chạy lại chào dì Năm. Đi nhà thờ hoài nên bà con trong họ đạo ai cũng biết tôi, và tôi cũng biết được nhiều người, trong đó có một người đặc biệt mà sau này đã có nhiều dính líu với cuộc đời của tôi.

Học xong trường nhà thờ, có chữ rồi, biết chữ rồi, lớn khôn rồi, tôi đi làm việc và cũng vẫn lui tới nhà thờ, cũng bởi hình ảnh người quen biết đó ăn sâu trong tâm trí. “Người ta” thấy tôi cũng … “bảnh trai”, có công ăn việc làm, thuộc gia đình đàng hoàng nên khi “đặt vấn đề” thì ưng thuận. Sau khi điều tra kỹ, gia đình “bên ấy” chỉ đòi hỏi có một điều kiện, mà lại là điều kiện … khó: phải theo đạo. Sao kỳ vậy?

Câu trả lời là tại vì …, tại vì … Tôi phải chạy tới dì Năm. Dì giảng giải. Dì khuyên nhủ. Tôi nghe được. Tôi bằng lòng. Tôi đến gặp cha. Vừa thấy cái mặt tôi, cha đã thấy quen rồi. Sau khi biết được lý do tôi đến tìm cha, cha hỏi tôi. Tôi trả lời. Cha tỏ ra quá hài lòng vì câu hỏi nào của cha tôi đều biết và trả lời được. Nhờ vậy, mọi chuyện trôi chảy. Trong ngày trọng đại của đời tôi, cha long trọng nói với mọi người:
- Tôi chọn cho nó tên thánh là Phaolô, vì giống thánh Phaolô, nó là người đã trở lại đạo.
Tôi phản đối:
- Nhưng mà con đâu có bắt đạo đâu cha!
Cha cười. Rồi từ đó, trong các giấy tờ “đạo”, tên tôi được ghi khởi đầu bằng tên thánh Phaolô, rồi mới tới tên đời, nhưng khi thì là Phaolô Ngoan, khi thì là Phaolô Ngon.

***

Rồi cũng như hồi xưa rủ nhau bỏ rừng về thành phố, tôi cũng theo đoàn người rời bỏ nước, ra đi để tránh những hiểm nguy có thể xảy đến cho mình không biết lúc nào. Và cũng như hồi còn ở Việt Nam sau khi về thành, đến nơi rồi, anh em đi tứ xứ lo sinh sống, rồi thỉnh thoảng mới có dịp gặp nhau. Khi đó thôi thì chuyện xưa chuyện nay kể nhau nghe, tha hương ngộ cố nhân mà. Đám nhỏ thì cứ chào hỏi, gọi tôi là chú ba hay bác ba. Anh em cùng trạc tuổi thì cứ tên mà gọi. Người thì gọi tôi là Ngoan. Người thì gọi tôi là Ngon.

Và bởi cuộc đời bao giờ cũng có hồi kết cuộc. Cuộc đời tôi cũng có lúc tàn cuộc. Tôi dặn con cái tôi “nhớ ghi cho ba tên Phaolô”, cái tên đã chuyển hướng cuộc đời ba. Đó là cái tên đã ghi tên ba vào danh sách con cái Chúa, và sau này có nhớ tới ba, cũng gọi tên ba là Phaolô!