Đoạn đường cuối

Đây không phải là con đường đi để ta có thể nói một cách xác định được đâu là đoạn đầu, đâu là đoạn cuối. Ở đời, muốn đi đâu ta theo môt con đường, và nơi khởi hành là đoạn đường đầu, gần tới nơi là ở đoạn đường cuối. Đường đi có thể ngắn, có thể dài, tùy theo nơi đi và nơi đến cách nhau gần hay xa. Đường muốn nói tới ở đây là đường đời. Đoạn đường đầu thì ai cũng có thể biết được, bởi nó được đánh dấu, ghi nhớ lại bằng giấy khai sanh, giấy rửa tội, bằng khoảng thời thơ ấu, thời còn nhỏ, thời vừa lớn lên.

Đoạn đường đầu thường quan trọng vì thế nào cũng có, nhưng đoạn đường đầu dài bao nhiêu, ai mà biết được? Chỉ khi có ai đã xong đời, người còn lại nhìn vào mới thấy và phân định: hồi còn nhỏ, lúc lớn lên và lúc về già. Có người chỉ thấy được “hồi còn nhỏ” thì từ đoạn đầu đến đoạn cuối chỉ có bao nhiêu đó thôi.

Đoạn đường cuối là đoạn đường người ta hay nhắm tới để mà “thèm” ao ước có được và tính toán dùm cho người khác. Bởi không biết được mức đến nên cũng không dễ gì nói được đâu là đoạn đường cuối. Chỉ có thể nhìn thấy bề ngoài, cái dáng đi chậm chạp, cái lưng khòm khòm, rồi cứ theo đó mà đoán, mà nói rằng người ấy đang ở lúc cuối đời, đang ở đoạn đường cuối.

***

Không dám nói chuyện ai, xin nói chuyện của mình. Hôm đó, tôi được đưa vào bệnh viện lúc nào không biết, và ai đã đưa tôi vào đây, cũng không biết, mà thiết nghĩ cũng không cần phải biết, chỉ biết rằng tôi đã đến đây.

Đó là lần thứ nhất tôi đến đây, khi tỉnh lại rồi, tôi biết được đây là phòng “săn sóc đặc biệt” (ICU). Đâu có phải là ai cũng có thể được vào đây. Phải có điều kiện, mà điều kiện đó, nghe nói tới, không ai muốn có. Có người mắc phải bệnh hiểm nghèo, phải mổ xẻ. Có người chẳng may gặp phải tai nạn xe cộ.

Như trường hợp của tôi, tôi vào đây là do sau cuộc giải phẫu lớn, cần phải được săn sóc đặc biệt, cần được theo dõi nhiều hơn và … đặc biệt hơn. Rồi nằm đây nhìn người ra người vào mới thấy trường hợp khá phổ biến khác để vào đây là do tai nạn xe cộ.

Nhìn người ta mới thấy, ra vào nơi đây ai cũng được đưa đón cẩn thận. Có xe “đưa rước”, có “người nâng người hạ”, bởi làm sao mà người bệnh bước lên xe nỗi nên cần có người “bưng” lên, bước xuống cũng không được nên cũng cần có người “hạ” giúp.

Ở lại đây lâu hay mau, tùy. Có người cả tháng, có người dăm ba ngày, có người chỉ vài giờ. Ở đây rồi đi đâu, tùy. Có người được đưa ra phòng khác để tiếp tục được điều trị, cho đến khi khỏe hẳn thì được cho về nhà. Có người được đưa đi nơi khác, nơi mà bất cứ phương tiện nào của trần gian này không còn cần thiết nữa.

Nằm trong phòng này mới thấy được nghĩa của trước sau. Tôi đến trước nhưng tôi vẫn còn đây nên tôi thấy được và biết được những người đến trước tôi và sau tôi. Người đến trước chưa hẳn là người sẽ “ra đi” trước, và người đến sau không hẳn là người sẽ rời sau.

Nhưng được nằm ở đây, gẫm lại là một điều có phước. Có phước vì người được nằm ở đây có nhiều thì giờ, thì giờ để nghĩ suy, thì giờ để lo liệu, thì giờ để nhìn lại cuộc đời. Ngoại trừ mấy y tá đến “thăm” thường xuyên, và các bác sĩ đến “định kỳ”, trừ những trường hợp nguy kịch, bất trắc, nằm ở đây thật là yên tĩnh, không ai quấy rầy. Mà cũng không được nói chuyện, người đến thăm được khuyên nói ít, nói nhỏ. Tôi nghĩ ở trong các nhà dòng chắc là cũng như vậy thôi.

Nằm yên ở đó, không nói chuyện với ai, tôi đọc kinh, những kinh mà ai cũng thuộc nằm lòng: kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh Sáng Danh. Cho nên tôi lần chuỗi. Xâu chuỗi lần luôn có trong tay. Nằm ở đây, ai cũng sợ chết … gần chết, nên lo tìm nơi bấu víu, tìm nơi nương tựa, tính ra có ai mà bằng Đức Mẹ, nên lần chuỗi là việc dễ làm và hữu ích.

***

Nằm ở đây có vài điều sung sướng, sung sướng khi thấy có người đến, và đến với mình. Hằng ngày, chiều đến là vợ con đến thăm, rồi lai rai cũng có bạn bè đến thăm: vui. Thấy cha xứ tôi đến thăm, tự nhiên tôi thấy vui. Tôi muốn đứng lên đi ra mừng cha, bắt tay cha nhưng không làm được. Vừa nhớm mình, cái quặn đau của cơ thể đè tôi nằm lại trên giường. Cha đi đến giường, tôi muốn đưa tay lên mà cũng đưa không nỗi. Cha hiểu ý, bàn tay cha tìm “bắt” bàn tay tôi. Cha cười, chào hỏi:
- Hôm nay con thấy bác khỏe hơn hôm qua.
Ủa! Hôm qua cha đến hồi nào mà tôi không hay. Có đời nào mà cha nói “chơi” đâu, nhưng nhờ cha nói tiếp:
- Hôm qua khi con đến đây thì bác còn mê!
À thì ra là vậy! Mà tại sao tôi lại mê? Sau này biết lại thì lần đó là lần đầu tôi được đưa đến bệnh viện rồi vào đây. Người ta nói đó là bệnh già, đúng vì tôi cũng đã già rồi. Nhưng thật ra thì là do bệnh ở phổi, lâu ngày “trở chứng”, làm cho tôi khó thở, rồi nghẹt thở, rồi hôn mê. Người nhà kêu xe nhà thương tới đưa tôi vào nhà thương. Thấy tim còn đập, người ta lo níu kéo tôi “ở lại”.

Qua cơn nguy hiểm, tôi được đưa vào phòng này để tiếp tục được săn sóc một cách đặc biệt. Tỉnh tỉnh lại, tôi thấy quả đây là phòng săn sóc đặc biệt, vì ngoại trừ y tá, bác sĩ vào đây có lúc có thì, người vào thăm bị hạn chế. Người nhà khi được phép vào thăm, phải mặc áo choàng do bệnh viện đưa, vì người ta sợ nhiễm trùng.

***

Điều sung sướng thứ hai là khi biết được mình sắp rời khỏi nơi này. Còn khi rời khỏi nơi này mà mình không biết thì … chuyện mình rời đi, người khác biết.

Lần đó, tôi nằm bên đây giường “nhìn” sang, mà không dám mở mắt. Các bác sĩ và y tá lăng xăng quanh giường anh ta, không biết bao lâu và họ làm những gì, rồi cuối cùng, người ta lấy một tấm vải trắng phủ hết người anh, rồi đẩy anh và cả cái giường đi ra khỏi phòng! Từ lúc người ta đưa anh vào đây cho đến khi người ta đem anh đi, anh chẳng có nói được với ai một câu nào. Đến đây, anh không biết và khi rời khỏi phòng, anh cũng không biết!

Nhìn thấy vậy rồi tôi nghĩ đến mình: hôm nào thì tôi sẽ “được” chuyển đi nơi khác như vậy? Và bên dưới lớp vải trắng che kín không cho ai nhìn thấy mặt, tôi sẽ “khóc hay cười”?

Như vậy đoạn đường đời của anh hơi ngắn. Anh đến với đời này sau tôi, dĩ nhiên vì liếc nhìn, tôi thấy anh còn trẻ hơn tôi, và anh rời bỏ cuộc đời này sớm hơn tôi. Anh bị tai nạn, nghe vậy thôi chớ không biết là tai nạn gì, anh chỉ đến phòng này được có hơn một ngày. Anh cứ nằm mê, rồi … Không nói được với anh một câu từ giả, tôi làm dấu thánh giá rồi đọc cho anh vài ba kinh, dẫu không biết được anh là người có đạo hay không. Đọc kinh xong, tôi cảm thấy hả hê trong lòng, mong khi đến lượt tôi, sẽ có người đọc kinh cho tôi.

Trường hợp khác, hôm đó ở giường bên cạnh có vẻ xôn xao. Vợ con ông ấy đã đến nhưng còn phải chờ bên ngoài phòng. Cô y tá lo làm những việc cô còn phải làm. Một lát sau, bác sĩ tới, xem lại hồ sơ, sờ mó ông rồi ký tên vào tờ giấy. Vậy rồi ai cũng cười, nhân viên bệnh viện và cả thân nhân người bệnh.

Ông ta chậm chạp đi bắt tay hết mọi người “còn lại” trong phòng để từ giả. Ông đã thoát qua giai đoạn hiểm nghèo, được chuyển sang phòng khác để rồi sẽ được cho về sau khi được chữa trị tiếp. Tôi chúc ông mau lành bệnh hẳn để trở về với gia đình. Ông cũng chúc tôi mau lành bệnh.

Nhìn ông, tôi thèm được như ông, càng sớm càng tốt. Nằm ở đây tuy yên tỉnh nhưng buồn quá, nhìn tứ bề chỉ thấy bệnh: người bệnh và người lo bệnh, rồi thỉnh thoảng lại thấy cảnh biệt ly.

***

Tôi lại có dịp trở lại đây lần thứ hai. Tôi ra vô chỉ có một căn bệnh. Lần thứ hai này cũng là do chứng bệnh cũ ở phổi tái phát, nhưng lại có thêm triệu chứng về tim. Người ta nói: lớn tuổi thì nó như vậy đó, tim gan phèo phổi gì cũng sắp tan nát hết. Cũng như lần trước, sau khi được “chia sẻ” ở phòng mỗ, tôi được đưa ra đây, nơi quen thuộc vì tôi đã đến đây một lần. Cảnh vật gần như lần trước, cũng có tất cả là 10 giường, tuy vị trí trong phòng có thay đổi chút đỉnh. Giường tôi nằm không còn ở vị trí của lần trước.

Cảnh là cảnh cũ nhưng người xưa đã thay đổi, ngoại trừ một hai người y tá cũ. Mấy người bạn phòng thì làm sao mà còn lại đây được, vì cũng đã mấy năm rồi. Tuy là người mới nhưng bộ mặt cũng giống những người cũ đã gặp trước đây, nhăn nhăn nhó nhó. Ai cũng mang dây nhợ trên người.

Sau khi tỉnh lại, “việc làm” của tôi cũng giống như lần trước. Tôi đưa mắt nhìn quanh để “thăm hỏi” những người đang nằm ở đây, chỉ có thể gật nhẹ đầu chào, và mấy người đó cũng làm như vậy, hay đưa tay vẫy nhẹ, kèm theo nụ cười héo hắt. Rồi sau đó, tôi lại nhìn quanh để theo dõi người ra người vào.

Rồi đêm đó, trời đêm thanh vắng lạ. Người ta đưa vào phòng một người bệnh mới. Cũng cảnh lăng xăng quen thuộc, vô nước biển, vô máu, đo lại mạch. Người bệnh có vẻ gan dạ lạ. Qua ngày hỏi lại thì mới biết: anh ta mê man nên không biết đau, không rên la. Hôm sau, cô y tá nói với tôi:
- Vietnamese!
Tôi rán ngóc đầu nhìn qua anh, để coi có quen không. Chèn ơi, tôi tỉnh hay tôi mê? Anh ta thì đang mê thiệt chớ còn tôi thì không. Rõ ràng là anh. Mới hôm nào gặp nhau ở nhà thờ, tôi bàn với anh, lúc cuối là lúc nào? Lúc nào sẽ là lúc cuối của tụi mình? Bởi ai cũng đã bước qua con số 80, mà không lẻ sẽ còn có thể đếm được con số 90 rồi 100? Làm gì có được! Để nói cho có vẻ văn hoa, hai anh em đồng ý là anh em mình đang ở đoạn đường cuối rồi.

Suy nghĩ kỹ thì không còn gì thắc mắc nữa, những người vào đây có thể nói là đang ở đoạn đường cuối của cuộc đời. Nhưng không phải chỉ là những người vào đây, nhiều người ở tình trạng tương tự cũng là đang ở đoạn đường cuối, lúc mà cảm thấy cái già nua đến xâm chiếm con người. Vấn đề là ta sẽ làm gì khi còn biết được là đang ở trên đoạn đường cuối?