Tưởng niệm Hàn Mặc Tử

Trưa ngày 11 tháng 11 năm 1940, Hàn Mặc Tử đã đi vào cõi chết. Một ánh sao băng! Một cánh cửa thiên tài đã khép!

Hàn Mặc Tử là bút hiệu, tên thật là Nguyễn Trọng Trí, nhà thơ thiên tài đã có mặt trên thi đàn Việt Nam lần lượt qua các bút hiệu: Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh, Hàn Mạc Tử rồi Hàn Mặc Tử. Hàn Mạc là "rèm lạnh", theo đề nghị của Quách Tấn, Tử thêm vào tên mình một vầng trăng trên đầu chữ A của chữ Mạc, thành ra "Mặc", đổi tên mình thành Hàn Mặc Tử có nghĩa là "khách văn chương". Tuy vắn số (28 tuổi đời), Hàn Mặc Tử đã để lại cho đời những vần thơ "đau", những vần thơ "điên", những vần thơ "trăng" tuyệt vời qua các tập: Thơ Đường luật (Lệ Thanh thi tập), Gái Quê, Đau Thương (còn có tên Thơ Điên), Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi giữa mùa trăng và một số bài tạp văn, phóng sự...

Vốn là thi sĩ, ông cũng không làm sao tránh được mối "duyên nợ" với giai nhân. Những "Mộng Cầm, Mai Đình, Thương Thương, Hoàng Cúc, Lê thị Ngọc Sương ..." đã ảnh hưởng sâu đậm đến thơ văn của Hàn Mặc Tử, mà Thương Thương là "nàng tiên" xuất hiện trong năm cuối cùng của cuộc đời thi sĩ tài hoa:

Đêm qua nằm mộng thấy Thương Thương
Má đỏ au lên đẹp lạ thường!"
hay:
"Đây Mai Đình tiên nữ của Vu Sơn"
....
"Ta là người uống muôn hận sầu cay
Nàng là mật của muôn tuần trăng mật."
rồi "thu":
"Ấp úng không ra được nửa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi!"
rồi "trăng":
"Không gian dầy đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng"
và nhất là cái chết cứ phảng phất ám ảnh, bởi căn bệnh cứ dần dần tàn phá cơ thể:
"Đầy lệ, đầy thương, đầy tuyệt vọng
Ôi! giờ hấp hối sắp chia phôi!"
Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta như nghe uất hận:
"Hỡi Phan Thiết! Phan Thiết!
Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu
Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư..."
Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta nghe buồn chơi vơi:
"Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhận không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có mặn mà?"
Thơ Hàn Mặc Tử nghe êm ả:
"Tâm sự mới trao bờ đã đến
Nỗi niềm chưa cạn khách về ngay
Ba sinh duyên nợ âu là thế
Một chuyến đò đưa nghĩa một ngày."
Thơ Hàn Mặc Tử nghe huyền diệu thiêng liêng:
"Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh,
Run như run Thần Tử thấy long nhan"
Thơ Hàn Mặc Tử là một thứ rung động nhẹ nhàng:
"Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi."
Thơ Hàn Mặc Tử mang một vẻ chất phác của tâm hồn:
"Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em."
Thơ Hàn Mặc Tử mang một vẻ "huyền ảo":
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô"

Nhưng phải nói "trăng" và "hồn" là hai nguồn cảm hứng đặc biệt của thi nhân. Trăng và hồn đã gây một cảm xúc sâu xa trong tâm hồn của thi sĩ, phải chăng do ảnh hưởng của đạo giáo mà tâm hồn là cái siêu việt, vĩnh cửu, còn trăng là "người tình thủy chung" nhất trong những đêm quạnh hiu, của cuộc sống phải cách biệt với người đời:

"Hồn là ai? là ai? tôi chẳng biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng..."
hay:
"Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi,
Trăng mới là trăng của Rạng Ngời"
Và Hàn Mặc Tử cũng tha thiết với tình yêu, nhưng bởi đã bị vất ra ngoài lề cuộc sống nên Tử chỉ còn có thể có những ước vọng:
"Nghe hơi gió ôm ngang với gió
Tưởng chừng như trong đó có hương
Của người mình nhớ mình thương
Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì!"
và chỉ là những ước vọng thôi!...

Đau đớn trong lòng, trong thân xác, có phải chăng vắn số là hạnh phúc Trời ban cho thi sĩ?