Không có mùng một

Có chớ, nếu không có mồng một thì làm sao có mồng hai, rồi mồng ba, rồi năm cùng tháng tận, rồi hết một đời người? Ngày mồng một là ngày đầu của tháng hay của năm. Nó đánh dấu một cái mới: tháng mới, năm mới. Nó đánh dấu một cái bắt đầu: bắt đầu của tháng mới, của năm mới. Nó đánh dấu của một sự trưởng thành, qua năm mới thêm tuổi thêm khôn. Vì là sự đánh dấu một cái mới, người ta thường không bỏ qua một cơ hội để ăn mừng, để nhậu nhẹt, để vui chơi.

Tháng này là tháng giêng Tây, tháng đầu của năm mới 2010, bà con mình ăn Tết tây. Tháng tới, bà con mình lại ăn Tết ta, Tết năm Canh Dần.

Hồi đó, cũng là chuyện của hồi xưa đó. Ở hầu hết các họ đạo, gần như mỗi năm có hai lần, bà con ta ăn Tết, một lần Tết ta và một lần Tết tây.

Đã gọi là Tết thì làm gì cũng có cái gì tươi vui, người ta đua nhau mặc quần áo mới, nhờ vậy mà các tiệm may rất ư là bận rộn trong những ngày chuẩn bị đón Tết, nhất là Tết ta, rồi thì tha hồ mà hốt bạc. Cái mà đáng nói nhất là bông hoa. Người ta chưng bông ở nhà, nhiều hay ít, tôi không màng. Tôi thường chú ý mấy chậu bông to tướng chưng ở trong nhà thờ. Tục lệ ở đạo mình, xưa kia, người ta đâu có “cúng” bánh trái, nên bông hoa là lễ vật chính người ta dâng lên cho Chúa. Sau này, tinh thần có đổi mới. Ngày Tết, ở họ tôi, người ta dọn hai bàn, một bàn chưng mâm ngủ quả, một bàn chưng một ổ bánh chưng to tướng. Còn khắp nhà thờ, đâu cũng bông. Bàn thờ lớn thì bình bông lớn, bàn thì nhỏ thì bình bông nhỏ. Bàn thờ các thánh dọc theo hai bên hông nhà thờ, ngày thường không có chưng bông, hay nếu có thì là bông ni long, ngày Tết cũng có bông tươi.

Ngày hôm trước, ngày cuối năm tây hay năm ta, chiều lại đã thấy có Tết trong nhà thờ. Ở buổi chầu phép lành cuối năm, nhà thờ có hát: Te Deum laudamus … thì cũng hai lần, một lần cho cuối năm tây, một lần cho cuối năm ta. Không biết có mấy người hiểu được ý nghĩa của kinh “Te Deum”, nhưng ai cũng hát “rân trận”. Quần áo mới chưa mặc để dành ngày mai đi mừng tuổi Chúa nhưng cũng phải là bộ đồ tươm tất nhất.

***

Từ sau ngày về ở họ đạo này, người mà tôi thường chú ý tới là bà. Năm đó, bà ít ra cũng phải 70 ngoài, vậy mà mỗi lần tôi đi nhà thờ thì y như rằng là tôi có thấy bà. Lễ sáng mỗi ngày, mùa nóng hay mùa lạnh, mùa mưa hay mùa khô, bước vô nhà thờ là tôi thấy bà, ngay tại chỗ quỳ đó, ở ngay cửa hông nhà thờ bước vô, phía bên nữ. Nhiều người biết nên họ nói đùa với nhau đó là chỗ dành riêng. Thật ra cũng dễ hiểu. Từ nhà bà đến nhà thờ, tuy không xa gì cho lắm, nhưng đối với bà, đó là một quảng đường dài. Cho nên vừa tới nhà thờ, bà cần phải nghỉ đôi chút. Nghỉ ngơi gì nữa, bà tìm nhanh một chỗ quì, thì có gì bằng vừa bước vô nhà thờ là có chỗ quì ngay. Bà bái gối, bà vô bàn quì, bà làm dấu: khoẻ! Mấy người không biết, lỡ chiếm chỗ này của bà, thấy bà buớc vô nhà thờ, lụm cụm quá, người ta tự động đi chỗ khác, nhường lại cho bà chỗ của bà. Thành ra vô tình đó là chỗ dành riêng cho một người nghèo, không chức phận: bà hai Hiếu.

Gần như năm nào cũng vậy, Tết đến, lễ xong, mừng tuổi Chúa, mừng tuổi cha, trong nhà thờ. Đâu đã xong, hơn 10 hội đoàn, người ta đổ xô lên nhà cha, mừng tuổi thêm cha sở và hai cha phó. Người ta ôm bông. Người ta đem quà. Người ta chờ nhau. Một hội đoàn vừa ra thì hội đoàn khác vô phòng, chúc cha, nghe cha chúc, vỗ tay, cười vui vẻ. Trong khi đó …

Trong nhà thờ còn có 3 người. Chú từ lo đi đóng các cửa nhà thờ, lo tắt hết các ngọn đèn, thỉnh thoảng sắp lại các bàn ghế bị sái chỗ. Bà hai Hiếu còn đang quì đọc kinh trước bàn thờ Đức Mẹ. Tôi, và tôi nữa, xa quê, không thân nhân họ hàng, về sớm biết đi đâu, đi theo chú từ phụ lo đóng cửa. Cánh cửa hông còn để mở. Nó sẽ được đóng lại sau cùng, vì bước ra cửa đó là gặp ngay cửa vào núi Đức Mẹ, bước ra cửa đó, ngay sau lưng núi Đức Mẹ là nhà chú từ.

Tiếng cười nói phía bên kia nhà thờ, phía nhà cha còn vang dậy, bên này bà hai Hiếu đi lần từng bước xuống các bậc tam cấp. Vậy mà bà chưa về đâu, bà còn ghé vào núi Đức Mẹ, như thường ngày. Tôi cũng vậy, tôi để dành băng ghế đá đầu tiên cho bà. Bà vô ngồi đó, lấy xâu chuỗi lần ra, làm dấu…Tôi cũng lo “công việc” của tôi, rồi thường thì tôi ra về trước. Gặp ngày Tết ta, tiếng pháo thay nhau nổ đì đùng, chắc là bà không nghe, bà cứ ngồi yên đó, miệng lép nhép…

Riết rồi thành ra quen, hễ hôm nào mà tôi rảnh, ghé lại núi Đức Mẹ là tôi gặp bà. Gặp nhau nhiều lần trở thành quen, mỗi lần gặp, bà nhìn tôi bà cười, chớ trước kia không có đâu, thấy tôi bà liếc sơ qua một cái rồi lầm lủi bước đi.

Năm đó, vào tháng chạp, mùa đông lạnh. Người ta nói “trời lạnh cho con nít mau lớn, cho người già … mau chết!?” Mấy hôm rồi, người ta không thấy bà hai Hiếu đi nhà thờ. Tôi không đoán mà biết ngay vì mấy hôm trước, tôi thấy bà hơi ho. Cho đến hôm đó, sau lễ anh em “Legio Mariae” rủ nhau đi thăm bà, mà lại có cha sở đi dẫn đầu, tôi đi theo. Lần đó là lần đầu tôi đến nhà bà. Bà không ra đón tiếp ai hết. Cửa nhà để mở, ai muốn vô thì vô, ai muốn ra thì ra. Bà không còn đi nỗi. Có người tính kỹ nói: mau quá, mới có có 8 ngày mà bà đã liệt giường.

Đây là nhà của riêng bà. Bà đã ở căn nhà này hơn 50 năm rồi. Bà đã mua được nó khi bà bắt đầu từ dưới quê lên Sài Gòn. Bà làm ở hãng thuốc lá Mic. Hãng đã giúp đỡ bà mua căn nhà này. Bà ở một mình từ ngày đó cho đến hôm nay. Mấy người sống lâu đời ở đây cho biết hồi còn nhỏ, bà cũng có mấy người bạn tới chơi với bà, rồi sau khi mấy người đó có chồng hết rồi, bà ít có giao thiệp với ai. Chuyện thường ngày của bà là đi nhà thờ xong, về lo đi làm, đi làm xong lo đi nhà thờ. Khi trong họ có đám tang, bà đi tới cầu lễ, có lễ lạc ở nhà thờ, bà tới phụ, mà đó là chuyện hồi đó kìa chớ sau này, bà đi còn không muốn nỗi thì phụ được cái gì!

Căn nhà bà ở đơn sơ lắm, chỉ có một cái giường cũ kỹ, một cái bàn cũ kỹ, một cái tủ nhỏ cũ kỹ. Tủ được dựng dựa vào vách. Nóc tủ được dùng làm bàn thờ. Trên vách, bà treo cây Thánh Giá. Trên “bàn thờ” có một cây Thánh Giá nhỏ nữa để ngay giữa, một tượng Đức Mẹ và một tượng thánh Giuse được đặt hai bên Thánh Giá. Trên vách gần đó, bà có treo một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Trong những ngày bà nằm liệt một chỗ, lối xóm thương tình tới lo cho bà. Rồi sáng hôm đó, vô nhà thờ, trước giờ lễ, một anh trong hội Legio Mariae đi nói nhỏ với người này người nọ, khỏi hỏi tôi cũng đoán được chuyện gì đã xảy ra đêm qua. Hôm đó là ngày 25 tháng chạp ta, còn mấy ngày nữa là tới ngày mồng một Tết ta. Tôi cảm thấy thương bà. Gần như là ba năm rồi từ khi tôi biết bà, Tết nào tôi cũng có bà, Tết ta cũng như Tết tây. Tôi gặp bà ngoài núi Đức Mẹ. Tôi giống bà ở chỗ là khi người ta vui đón Tết, tôi với bà chỉ biết ngồi ngoài núi Đức Mẹ, thủ thỉ với Đức Mẹ. Giờ thì kể như dứt khoát rồi, không còn có ngày nào là ngày mồng một nữa đối với bà. Nếu trên thiên đàng mà cũng có ăn Tết thì kể như bà vui rồi, chắc chắn là bà có Đức Mẹ với bà như những ngày Tết ở dưới đất này, bà ở với Đức Mẹ ngoài núi Đức Mẹ. Mà tôi nghe các cha giảng dạy rằng: nếu được lên thiên đàng thì “ngày nào” cũng là ngày vui, ngày nào cũng là ngày mồng một, mà nên nhớ, trên thiên đàng không có “ngày giờ!” Với cặp mắt trần tục, tôi thấy bà là người tốt lành. Với một niềm tin mãnh liệt vào tình thương của Đức Mẹ, tôi tin rằng bà hai Hiếu đã có được ngày mồng một, vĩnh cữu.

Con lạy Đức Mẹ từ bi, xin cho chúng con được có ngày mồng một.