Không ngờ

Tôi gọi anh là anh, không phải theo cách mà tình đời thường hay trách: thấy sang bắt quàng làm họ. Bởi do có chút liên hệ gia đình, theo vai vế, tôi gọi anh là anh, và anh kêu tôi là em. Về anh, rất nhiều người biết anh. Người ta biết và phục anh. Người ta, có người, biết và khinh anh. Người ta chê trách, nói theo ngôn ngữ bình dân: người ta chữi anh. Về tôi, không ai biết tôi, nhưng anh biết tôi vì tôi đã làm một việc cho má anh, mà anh nói là anh mang ơn suốt đời.

Anh thuộc gia đình khá giả mà theo anh kể, ông ngoại anh là một trong vài người giàu có nhất tỉnh nọ ở miền Nam. Do thân thế, ông chơi với nhiều người Pháp, những người có chức phận ở trong tỉnh. Họ thường lui tới gia đình ông để nói chuyện chơi, ăn nhậu và … hút.

Trong số những người Pháp ông quen biết, các vị mục sư Tin Lành người Pháp cũng thường hay tới lui với ông. Họ muốn ông vô đạo. Họ mời ông. Họ giảng giải, giảng đạo cho ông. Họ khuyên lơn ông. Họ dụ ông. Bằng đủ mọi cách, họ lôi kéo ông theo đạo. Nghe riết rồi ông cũng xiêu lòng. Ông bằng lòng theo nhưng họ lại đặt cho ông một điều kiện quá khó khăn: bỏ hút. Ông đã thẳng thắn trả lời dứt khoát: theo đạo thì được nhưng bỏ hút thì không. Hai bên giằng co. Không chịu bỏ hút: không rửa tôi. Rửa tội hay không, không bỏ hút. Không chịu thua, vị mục sư tiếp tục theo đuỗi. Tức chí, ông nói: chỉ cho tôi đoạn Phúc Âm nào mà Chúa nói không được hút!!

Không chịu thua, vị mục sư cứ tiếp tục tới để khuyên lơn. Cho tới một ngày, vị mục sư lại tới. Ông cũng vẫn tiếp đãi ân cần. Thấy có vẽ được, vị mục sư lại đề cập vấn đề. Ông lại cũng giữ vững lập trường: theo đạo thì được nhưng vẫn giữ nguyên ý là không bỏ hút, vì theo ông đó là nguồn sống của ông. Rồi như không muốn kéo dài tình trạng giằng co, hôm đó khi vị mục sư tới nhà chơi và nói tới việc theo đạo, ông đã mạnh dạn “tuyên bố”: Ông không rửa tội cho tôi thì tôi sẽ tự rửa cho tôi. Nói xong, ông dẫn vợ ông đi xuống sông ở trước nhà. Ông “đè” đầu bà xuống, lấy nước xối lên đầu. Xong, ông làm cho ông. Trở lên bờ, ông nói: tôi đã rửa tội xong.

Vị mục sư đành phải chào thua, và rồi phải dàn xếp để có một lễ rửa tội long trọng hơn, trang nghiêm hơn, cho xứng danh và có nhiều người dự. Và rồi cuộc lễ đã được diễn ra, có đông đảo người tham dự. Và cũng từ đó, mọi người đều biết ông là người đã theo đạo Chúa, đạo Tin Lành.

***

Rồi con theo đạo cha là lẽ đương nhiên, má anh là người giữ đạo Tin Lành, khi còn nhỏ. Rồi bà lớn lên, lập gia đình với người theo đạo Tin Lành. Bà có hai người con trai, đáng “đồng tiền”, ăn học thành tài, có danh có phận. Chồng bà chết, bà ở lại với con. Một biến cố lại xảy ra với bà, khiến cho cuộc đời của bà lại có thay đổi lớn.

Năm đó, bà đau. Bác sĩ không trị được. Bà được đưa vào bệnh viện Grall. Ở đó người ta chụp hình X-ray, định được bệnh của bà và đã đi đến quyết định: phải mỗ. Nghe nói đến tiếng mỗ, bà thấy sợ. Bà biểu con nói lại với bác sĩ: có cách nào khác không? Thuốc gì bà cũng uống được! Làm gì làm miễn là đừng có mỗ! Nhưng vị bác sĩ người Pháp đã mỉm cười rồi dịu dàng nói với bà: Bà yên trí! Mỗ dễ lắm. Không có đau gì hết. Mỗ xong là bà sẽ khỏe lại, sẽ hết đau, rồi bà sẽ về nhà, và sống lâu với con cháu.

Nghe thì nghe vậy chớ bà đâu có yên tâm. Bà vẫn cứ lo lắng. Trong khi chờ đợi, buổi sáng và buổi chiều, bà thường đi ra ngồi trên băng đá trong vườn của bệnh viện. Ở đó có một “hòn núi” nhỏ, có tượng của một “Bà áo trắng” mà nhiều bệnh nhân đến đó để cầu nguyện. Bà cũng làm như họ dẫu không biết Bà này là ai. Theo đạo, bà biết Chúa mà không biết Bà này. Thấy người ta cầu nguyện, bà cũng cầu. Cứ mỗi lần tới “núi nhỏ” đó là bà cứ cầu xin: Lạy Bà, Bà linh thiêng xin cho tôi khỏi phải mỗ, tôi sợ mỗ lắm…

Ngay đêm trước ngày mỗ, anh kể: má anh nói là đêm đó khi đang ngủ, bà thấy bà áo trắng hiện ra đứng ở đầu giường. “Bà” mỉm cười với bà. “Bà” lấy tay giở tấm vải che lên, rồi đưa tay vuốt bụng bà. Xong bà mỉm cười, rồi biến đi.

Đến ngày mỗ, tất cả đã được chuẩn bị đầy đủ. Các con bà cũng đã đến với bà. Các bác sĩ đã sẵn sàng. Nhưng theo thủ tục, bà được chụp hình lại trước khi mỗ. Các bác sĩ đã rất ngạc nhiên. Các ông đã họp bàn. Các ông so sánh hình chụp lần trước và lần này. Hai anh em ông được mời tới để coi. Tất cả đều ngạc nhiên: không có triệu chứng của bệnh. Bà được giữ lại để khảo nghiệm.

Trong mấy ngày được giữ lại, bà lại có thêm thời gian ra “núi” để chào và van xin cứu chữa. Bác sĩ lại khám nữa. Hình chụp mới nữa lại xác nhận: không có bệnh! Và bà được cho về. Trên đường ra về, bà yêu cầu con ngừng xe lại trước “hòn núi” để bà chào, và bà có hứa trước mặt hai con: mẹ sẽ theo đạo của Bà này, chính Bà này đã cứu mẹ. Anh đã giảng cho mẹ anh biết: đó là Đức Mẹ Maria, đã hiện ra Lộ Đức, khi học ở bên Pháp, anh có ghé viếng nơi này. Bà say sưa nghe con nói. Bà nói ra ý định của mình: không ai phản đối. Bà trở lại đạo Công Giáo. Rồi tới phiên hai con bà, hai con dâu và đám cháu nội …

***

Thời cuộc thay đổi, anh có vai trò trong xã hội mới. Sự giữ đạo của bà cũng bị ảnh hưởng và thay đổi. Xã hội không chấp nhận việc giữ đạo. Để giữ địa vị của anh, bà giữ đạo theo cung cách mới: giữ đạo âm thầm. Bà không còn lui tới nhà thờ. Bàn thờ trong gia đình cũng không còn. Bà âm thầm đọc kinh, đọc kinh một mình. Đôi lúc để bảo đảm sự kín đáo, bà ra sau hè ngồi đọc kinh. Cái gì có thể mất nhưng xâu chuỗi lần vẫn luôn luôn còn ở trong túi áo bà, không ai biết được, không ai có thể khám xét được.

Dẫu là ăn học cao và có đủ phương tiện, anh đã không nghĩ ra được giải pháp để “lo” cho mẹ. Đã ngoài 80, bà cụ đã yếu, yếu nhiều nên chỉ nằm một chỗ để chờ. Bác sĩ cũng chỉ có một lời khuyên duy nhất: lo chuẩn bị mọi việc. Bà cụ cứ nằm thoi thóp, thở những hơi thở chậm và nhẹ, nhẹ đến nổi nhiều khi người nhà theo dõi không biết có còn thở hay không. Nhưng thỉnh thoảng bà còn cựa mình, còn mở mắt đôi mắt đã trắnh bệch ra để nhìn, còn biết mở miệng ra khi được cho uống, cho ăn, thỉnh thoảng còn thở ra.

Tuy là ăn học cao, đi học bên Tây, chịu ảnh hưởng của cái học Tây phương, anh vẫn còn tin vào việc “nuối”. Thấy mẹ cứ còn dây dưa chưa “ra đi” được, anh nói là “má anh còn nuối thằng con anh”, thằng cháu nội mà bà thương nhiều nhất trong đám cháu. Nó đang còn bận đi học ở xa chưa về được. Ai đến thăm, sẽ thấy bà cụ tuy nằm yên, vẫn còn nắm xâu chuỗi lần trong tay!

Tình trạng kéo dài trong nhiều ngày. Nằm một chỗ, bà luôn luôn lần chuỗi. Mặc cho ai có mất có còn, bà luôn vẫn còn có Đức Mẹ. Bà vẫn còn có Chúa. Cho nên khi bà không còn đủ sinh lực cho cuộc sống, cứ nằm thoi thóp như chờ đợi một cái gì. Anh đã không ngần nói là bà cụ chưa ra đi được vì còn “nuối” thằng cháu nội. Bà đang ở những phút cuối của cuộc đời, không ai “ngăn cấm” gì bà nữa. Đến thăm thấy bà cứ mân mê xâu chuỗi lần, tôi cũng nghĩ đến sự “nuối” của bà, nhưng ở khía cạnh khác. Tôi mạnh dạn nói với anh: em nghĩ bác còn “nuối” cái đạo mà bác đã giữ bấy lâu nay … Nghe xong, anh đi lại ngồi xuống ghế, lấy hai tay bụm đầu, yên lặng. Rồi anh đứng lên, đến gần nói với tôi: mọi việc, anh nhờ em lo giúp cho má anh!

***

Sáng hôm sau, tôi chở cha tới. Hai anh em anh chào hỏi cha vì cũng là chỗ quen biết ở giới đại học. Chào hỏi xong, cha được hướng dẫn vào phòng bà nằm. Bà vẫn còn “nằm” đó, thở những hơi thở thật nhẹ, thỉnh thoảng bà thở dài một cách yếu ớt. Tôi theo sát sau cha. Anh theo sát sau tôi. Cha ngồi xuống ghế. Cha nói:
- Bà! Tôi là linh mục. Tôi đến thăm bà!
Nghe được như vậy, bà đưa tay quờ quạng một cách yếu ớt, bà tìm cha. Cha nắm lấy tay bà. Cha vuốt bàn tay gân guốc, nhăn da của bà và nói tiếp:
- Bà có phước lắm! Chúa thương bà lắm!
Tôi thấy giọt nước mắt chảy ra từ đôi mắt đã trắng dờ, không còn một chút “thần” của bà. Cha thò tay vào túi xách cha đem theo, lấy ra hủ dầu thánh. Cha xức dầu trên trán bà, trên ngực bà mà miệng cứ nói:
- Chúa rất thương bà! Bà có phước lắm. Để tôi cho bà rước Chúa nghe!
Tôi thấy đầu bà như có gật nhẹ. Rồi cha lấy “Mình Chúa”, bẻ ra một miếng nhỏ, cha nhúng vào nước sâm rồi đưa vào miệng bà. Bà nuốt. Bà còn hiểu. Bà cố gắng nuốt. Miệng bà chép chép…
Tôi nghe như có tiếng ai khóc phía sau lưng tôi. Tôi quay lại, không thấy anh đâu. Anh trở ra phía trước, ngồi khóc tức tưởi… Tại sao anh khóc? Anh khóc cái gì? Xong, cha trở ra, chào gia đình. Tôi đưa cha về. Lúc đó khoảng 11 giờ sáng. Chiều lại, khoảng 2 giờ, bà thở hơi cuối cùng, êm ái, không còn “nuối” nữa! Tay bà vẫn nắm chặt xâu chuỗi lần mà bà luôn giữ để tôn kính và nhớ ơn “Bà áo trắng” đã cứu bà.
Tôi lại làm nhiệm vụ đưa cha trở lại thăm để chia buồn. Anh cám ơn cha. Anh nắm tay tôi nói:
- Anh cám ơn em nhiều lắm. Anh mang ơn em suốt đời.

***

Chắc chắn là anh hiểu cuộc đời nhiều lắm, bởi anh là giáo sư, dạy người ta về cuộc đời. Nhiều học trò của anh nhờ anh mà thấm thía cuộc đời này, lẽ nào anh lại không hiểu. Mấy năm sau ngày má anh qua đời, cuộc đời anh cũng thay đổi nhiều. Nhà thờ anh vẫn chưa trở lại bình thường mà công ăn việc làm của anh cũng không còn bình thường như trước đây. Nhiều biến cố xảy đến với anh.

Cái chết của má anh đã là một điều tác động không ít đến cuộc đời của anh. Theo sự xét đoán của con người, mà anh cũng nghĩ như vậy: má anh đã chết “quá bình an” nhờ có Đức Mẹ. Rồi đến con anh, nó bị tai nạn, nằm mê man, bất động, nhìn ngơ ngơ ngáo ngáo. Người nhà đi xuống Bạc Liêu, khẩn nhờ cha Diệp cầu nguyện cho. Sau khi kiểm lại, đúng vào giờ người nhà đang ở Tắc Sậy để đọc kinh, trên này con anh nó đã to tiếng kêu anh: “Ba!”. Anh lại có dịp để khóc nức nở.

Anh đã thấy cuộc đời có quá nhiều bất công, trong xã hội, trong đạo trong đời. Anh muốn dùng ngòi bút để xóa những bất công đó. Nhưng làm sao được! Và anh bị kết án bởi cả đạo lẫn đời. Mặc cho đời lên án anh, anh đã lại nhìn thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời anh. Trong những năm cuối đời, anh lại là người kêu vợ con lo đọc kinh, lo đi lễ.

Anh đã phân tích được những cái hay cái dỡ trong xã hội mà anh mong muốn nó trở thành tốt đẹp hơn. Với khả năng đó, anh thừa sức phân tích được sự trợ giúp của Đức Mẹ qua cái chết của má anh, và lời cầu bàu của các thánh ở trường hợp xảy ra cho con anh. Trong những ngày cuối, anh nằm đó đọc kinh. Người ta thấy cha đến thăm anh nhiều lần. Đám tang anh, họ đạo đến đọc kinh nhiều lần.

Thánh lễ an táng được cử hành trọng thể vì có đông đảo người dự: đạo có đời có. Người ta đến để chia buồn và cũng để cầu nguyện cho anh. Cho đến hôm đó nhiều người mới biết, tên thánh rửa tội của anh là Phêrô. Quả thật không ngờ! Không ngờ là anh còn có dịp trở lại nhà thờ. Không ngờ cuộc đời anh lại giống thánh quan thầy của anh: chối Chúa và rồi trở lại. Nguyện xin Chúa thương cứu rỗi linh hồn anh!