Lá Rụng Về Cội

Trời về chiều. Chiếc xe ngựa ngừng lại ngay trước cỗng nhà tôi. Một ông già ốm yếu, xuống xe rồi đi ngay vô nhà tôi. Thấy khách lạ đến nhà, tôi chạy ra, nhưng mà không nhìn biết được là ai, tôi khựng lại. Ông lên tiếng hỏi, giọng nói thều thào rất khó nghe:

- Có má ở nhà không con?

Tôi chưa kịp và cũng không dám trả lời thì con chó Luốc nhà tôi nó chạy ra. Tôi không biết ông khách lạ là ai, mà sao con chó Luốc nó không mừng, cũng không sủa khiến tôi không thấy sợ. Nó đứng im bên cạnh tôi, như để bảo vệ tôi. Theo phản xạ bình thường, tôi quay lại nhìn vô nhà và kêu to: “Má ơi!”. Anh tôi chạy ra, rồi thì má tôi ra tới. Vừa thấy ông khách, má tôi kêu nhỏ lên liền:

- Trời đất ơi!

Hình như ông không nghe được tiếng má tôi, ông thều thào:

- Hai!

Rồi như quá mệt mõi, ông đi nhanh lại bàn giữa nhà, kéo ghế ngồi xuống và nói:

- Con trả tiền xe ngựa dùm cậu!

Xong, má tôi thu xếp liền, kêu hai người cậu họ lo dọn cho ông khách cái giường ở “nhà dưới”, ngay cửa ra vào. Lần hồi tôi biết được đó là cậu ruột của má tôi. Bà ngoại tôi thứ sáu, ông thứ tư nên anh em tôi gọi ông là “ông tư”. Từ ngày hôm đó, nhà tôi lại thêm một miệng ăn, mà lại đặc biệt, mỗi ngày tôi hay mấy anh tôi tới giờ phải lo đem cơm cháo cho ông. Công việc cũng quen thuộc vì cách đây mấy năm, má tôi phải lo đùm bọc cậu hai Mới, con của ông, về đây ở rồi chết tại nhà này, bởi vậy khi thấy ông ghé về, má tôi mới buột miệng kêu trời.

Năm đó, dịp lễ cúng kỳ yên, cậu hai Mới được làng chọn, cho khiêng con heo quay để cúng thần, khiêng xong làng sẽ thưởng cho 2 đồng, một gói xôi và một miếng heo quay nhỏ. Con đường đi khá xa từ nhà ông hương quản Lình đi đến đình. Con heo quay mập tròn, trĩu nặng, lắc lư trên vai của hai người khiêng ốm yếu rồi lăn tròn xuống ruộng, lôi hai người khiêng té nhào. Ông hương quản Lình giận quá, lấy hèo đập tới tấp vào hai người khiêng. Cậu hai Mới sợ quá, rán lấy hai tay che đỡ đầu để tránh đòn, chạy nhanh về nhà, túm lấy vài ba bộ quần áo rồi bỏ xứ trốn biệt. Biết trốn đi đâu? Cậu ấy băng ruộng, băng rừng chạy lên miệt Châu Pha, sống luôn trên đó. Mấy năm sau, chịu không nổi, cậu mò về, trốn đâu đó rồi đợi đến tối mới vô nhà má tôi. Nước độc vùng Châu Pha đã làm cho da cậu trở nên vàng, bụng to trướng lên. Nằm trốn trong nhà, không dám đi ra mà đi ra cũng không nổi cho đến ngày hôm đó cậu được người khiêng ra khỏi nhà trong chiếc hòm đơn sơ được đóng bằng bộ ván của má tôi, sau khi cha sở đã đến với cậu vài lần, cho xưng tội, rước lễ và chịu phép xức dầu. Cậu đã hiên ngang đi ra ngoài đường mà không còn sợ ai bắt cậu nữa! Cậu được an phần mà má tôi cũng được an tâm, đã lo được cho cậu phần linh hồn!

***

Sau con giờ tới cha. Vì lý do nào mà ông tư đã bỏ xứ đi, mà đi đâu tôi cũng không nghe nói tới, chỉ biết là bây giờ ông về đây là đem thêm gánh nặng cho má tôi. Nhà cũng khá rộng nên việc ở của ông không là một vấn đề phải lo lắng, cơm nước thì chỉ là vấn đề “thêm chén thêm đủa”, nhưng còn thuốc men cho ông. Dáng vóc, thân thể của ông cho thấy là ông sẽ không ở lâu với má tôi. Ông sẽ ở tạm “ít ngày” như cậu hai Mới, con ông, rồi thì ông cũng sẽ “đi”. Việc mà má tôi lo lắng là thuốc men cho ông và làm sao mà “trục” được ông trở lại nhà thờ.

Tối ngày, ông chỉ nằm yên một chỗ, và ho, ho suốt ngày. Mỗi ngày, cả nhà tôi đi lễ sáng, ông không đi, ngay cả lễ ngày Chúa nhật. Tối đến khi cả nhà quay quần đọc kinh tối, ông cũng nằm rên hừ hừ trên giường. Tôi thắc mắc:

- Ông tư có đạo hôn?

Anh tôi giảng giải:

- Ông tư là anh của bà ngoại, bà ngoại có đạo thì ông tư cũng có đạo, biết hôn?

Tôi gật đầu mà thắc mắc:

- Sao ông tư không đọc kinh, không có đi nhà thờ?..

Lần hồi, nhờ có ăn uống “đầy đủ”, ông tôi đứng dậy nỗi, đi ra đi vô được. Má tôi “kêu réo”, ông rán ngồi dậy đọc kinh tối với gia đình nhưng chỉ thỉnh thoảng nhép miệng thôi. Má tôi hỏi:

- Cậu còn nhớ kinh kệ gì không?

- Nhớ chớ con!

Rồi má tôi đưa cho ông cuốn sách “Mục Lục” với xâu chuỗi và dặn: “Cậu ở nhà rán đọc kinh!” Từ hôm đó, mỗi ngày ở nhà, ông luôn cầm xâu chuỗi trong tay, nằm dài trên giường mà lần chuỗi. Quả thật, ông yếu lắm. Mỗi lần đọc kinh chung, ông chỉ ngồi được có một chút xíu là nằm xuống ngay. Thấy ông về cũng khá lâu rồi mà không rời nổi khỏi nhà, má tôi lo tìm cách cho ông gặp cha. Nghe má tôi đề nghị, ông hỏi:

- Cha Gabriel Long còn ở đây không?

- Cha đổi đi mấy năm nay rồi. Cha sở bây giờ là cha Phaolồ Đạt!

- Cha Long biết cậu, chớ phải cha còn ở đây, bữa nào cậu rán đi lên thăm cha.

- Cha nào thì cha, cậu cứ rán đi nhà thờ, lo phần linh hồn.

- Thì cậu trở về đây là để lo trở lại!

Có mấy lần, chắc là trong người thấy khỏe, ông kể chuyện này chuyện kia cho anh em tôi nghe:

- Tụi con thấy cái lầu chuông với cái nhà tuồng ở nhà thờ mình không?

- Dạ thấy.

- Dân xứ mình nhớ ơn cha sở Tòng nhiều lắm ..

Nghe tới đó, má tôi xen vô:

- Cha Tòng gì nữa, cha làm đức cha rồi. Bộ cậu không nghe sao?

- Có hay biết gì đâu!

- Mà đức cha cũng chết rồi!

- Ủa, vậy sao!

Rồi ông tiếp:

- Lầu chuông xưa của mình nhè nó nằm ở gần ngoài cỗng nhà thờ. Năm đó, sẵn lo cất nhà tuồng, trường học cha sở Tòng lo làm luôn lại lầu chuông, phía ngang hông nhà thờ, với lại lầu chuông nó cũng lâu quá, cây mụt hết rồi. Ông có đi làm, hổng có lấy tiền nhà thờ. Mỗi ngày cha sở lo cơm cho tụi ông. Đâu cũng gần năm mới xong. Xong, cha sở có cho mỗi người một mớ gạo, mớ cá khô với vải may một bộ đồ. Giờ ông thấy nhớ cha sở Tòng quá!

Cậu tôi chêm vô:

- Ai chớ cha sở Tòng thì cậu muốn thì gặp được chớ có khó khăn gì!

- Đồ quỷ mầy!

Hứng chí, ông kể: ông rửa tội thời cha Nghi (Martin) tới hồi bà ngoại tụi con rửa tội là thời cha Hiền (Favier). Thời cha sở Lợi (Bongain) thì ông xưng tội rước lễ vở lòng, thêm sức, bao đồng. Thời cha sở Tòng thì ông ngoài 20, ông chuyên môn phụ việc ở nhà thờ những khi rỗi rảnh, đặc biệt là trong công tác cất nhà tuồng, trường học, làm lại lầu chuông.

Má tôi nói:

- Bây giờ mà cậu vô nhà thờ cậu sẽ thấy khác hồi xưa nhiều lắm.

Ông nói liền:

- Cậu quyết trong bụng là thế nào cũng phải ghé lại thăm nhà thờ một phen. Cậu cứ cầu xin Đức Mẹ cho cậu được dịp trở lại nhà thờ. Nhà thờ này là nhà thờ của mình mà! Đi đâu đi, cậu cũng nhớ nhà thờ…

Từ ngày ông về ở tại nhà má tôi, chỉ có hai người là khách đến thăm ông: cha sở và ông thầy thuốc Tiếng.

Ông là trưởng ngành y tế mà thời đó người gọi là giám đốc nhà thương. Vai trò của ông là chăm sóc tất cả người bệnh trong tỉnh. Dưới quyền ông có ba y tá, một thơ ký, một bà sơ lo phát thuốc và hai người lao công làm đủ hết mọi việc: quét dọn, lau chùi và đôi khi luôn cả công việc băng bó. Đó là toàn ngành y tế ở quê tôi, tập trung tại “nhà thương thí.” Má tôi đi rước, nễ tình cũ với ba tôi khi ba tôi còn sống, thầy thuốc Tiếng đạp xe tới nhà để khám cho ông tôi, không lấy tiền. Sau khi khám xong, ông viết cho cái toa nhưng nói kèm: “Mấy thứ thuốc này madame mua không được đâu, phải đi Sài Gòn may ra mới có”, và ông lấy từ trong túi xách của ông mấy thứ thuốc, đưa cho má tôi và dặn cách uống. Xong, má tôi đưa ông ra cửa, ra đến sân, ông còn đứng lại nói thêm gì đó với má tôi. Tôi thấy má tôi gật gật đầu…

Người thứ hai đến nhà thăm ông tôi là cha sở. Đối với cha sở, ông tư là người lạ. Đối với ông tư, cha sở là người mới. Ông tư với cha sở chưa hề quen biết nhau, khi ông rời bỏ xứ thì cha sở chưa đổi về, còn thời cha sở cựu Gabriel Long. Nhưng khi biết đó là cậu của má tôi, khi tới nhà, cha nói nghe như quen nhau lâu rồi: “Chào ông tư!” Vô nhà, anh tôi đem cho cha cái ghế. Cha kéo lại, ngồi gần giường ông tôi. Ông rán ngồi dậy nhưng cha nói “ông cứ nằm xuống.”

- Con rán lo cho cậu con. Phần cha, cha sẽ rán năng tới lui để an ủi ông, lo cho ông trở lại!

***

Sức khỏe của ông lên xuống như hình quả chuông. Lúc mới về, nó ở dưới thấp. Nhờ có ăn uống vô, nó đi lên cao, nhưng bây giờ căn bệnh nó ăn mòn thân xác, nó lại tuột xuống, tuột nhanh xuống. Ông về ở với gia đình tôi đâu được vài tháng thì chuyện phải xảy ra đã xảy ra. Hôm đó, khi cả nhà đi lễ sáng về thì cậu tôi chạy ra cửa kêu má tôi:

- Chị vô lẹ coi, cậu tư làm gì kỳ quá!

Má tôi với anh em tôi chạy lại chỗ giường ông nằm. Ông thở coi hơi lạ. Mỗi lần ông thở, đầu ông ngước lên, miệng hả rộng ra, mắt trợn ngược lên. Mắt không có “thần”, tuy mở ra nhưng hình như ông không có nhìn đâu hết. Má tôi sai cậu tôi chạy đi kêu cha sở. Một người cậu nữa chạy đi kêu lối xóm. Má tôi lo “kêu Chúa”. Anh em tôi đứng gần đó lo lần chuỗi! Bà con lối xóm tới, xúm nhau lo đọc kinh “giữ linh hồn”. Cha sở tới. Cha làm phép cho ông. Mọi việc xong, cha về. Bà con ra về. Ông tư tiếp tục nằm im đó, thở thoi thóp!...

Đám tang ông rất đơn sơ. Sau khi ông tắt thở, má tôi quơ lấy cái áo dài chạy lên nhà thờ để xin cha giựt chuông và xin cho ông một lễ “hối tử”. Tôi nắm tay chạy theo má tôi. Cha sở cho kêu từ giựt chuông nhưng cha không nhận tiền lễ vì cha biết hoàn cảnh gia đình tôi. Cha còn dặn: “Để rồi cha xuống!” Trở về, má tôi kêu mấy người bà con, có người biết nghề thợ mộc ra xẻ một bộ ván để đóng cho ông cái hòm. Phía nhà dưới, tiếng cưa, tiếng đóng đinh sột soạt, đùng đùng. Ở nhà trên, má tôi với anh em tôi và vài người lối xóm xúm nhau đọc kinh cho ông tôi. Anh hai tôi dặn “rán đọc kinh cho lớn để ông tư nghe ông tư không về!” Nghe vậy, tôi rán đọc thiệt to để cho ông nghe…

Ông được đưa trở lại nhà thờ nơi ông đã góp công sức, xây dựng mà ông đã hảnh diện như là nhà thờ của ông, đúng như ông mơ ước. Tại đất thánh, sau khi hạ huyệt xong, bà con ra về. Cha sở đi lại gần nói với má tôi:

- Cha mừng cho con!

Cha nói phải. Gánh nặng đè thêm lên vai má tôi được trút nhẹ bớt đi. Điều mà má tôi lo lắng nhiều, má tôi đã làm xong, có thể nói là làm xong một cách mỹ mãn, theo khả năng của má tôi bởi vì tôi nghe cha sở nói tiếp:

- Con lo cho cậu con trở lại được thiệt là quí. Ông ấy bỏ đi xa bây giờ trở lại, trở lại được nhà thờ thiệt đúng như là “lá rụng vê cội!”