Mái Nhà Xưa (1)

Chuyện Mặt Tiền

Những bức hình trong bài “Một thoáng quê hương” của Vũ Trinh và “Một lần ghé thăm Ngôi Nhà Văn Hóa Công giáo Việt Nam” của Lm. Trần Cao Tường trên mạng lưới Dũng Lạc đã gây cho tôi một cảm giác “buồn nhớ” trong người. Từ lâu rồi, sau khi rời xa nơi đó, tôi vẫn còn giữ hình ảnh của ngôi nhà đó trong tâm trí, nhưng có được một tấm ảnh để lâu lâu lại nhìn thì không có. Vô tình mạng lưới Dũng Lạc đã làm một việc đáng giá ngàn vàng cho tôi, cho cá nhân tôi và có lẻ cho một vài anh em khác.

Các bức hình trong hai bài viết trên là ngôi nhà của Chủng Viện Sài Gòn trước kia, nơi tôi đã sống. Nó đã được gọi dưới vài tên gọi khác nhau: Chủng Viện Sài Gòn, Chủng Viện Thánh Giuse, Nhà trường La tinh, Séminaire SaiGon, và xưa hơn nữa thì không biết. Xin cha và ông cho mượn vài tấm hình đó, để in lại ở đây.

Nó được gọi là “Chủng viện Sài Gòn” vì đó là nơi đào tạo các linh mục, các cha thuộc địa phận Sài Gòn. Thời đó, địa phận Sài Gòn rộng lớn, bao gồm cả miền Nam (?), sau mới được tách ra các địa phận Vĩnh Long, rồi Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Bình Dương (hay Phú Cường), Xuân Lộc, và bây giờ thêm Bà Rịa. Hồi xưa đó, các thầy thuộc các địa phận Nam Vang, Qui Nhơn, KonTum.. cũng được gởi tới học tại đây.

Nó được gọi là “Chủng viện Thánh Giuse” vì các đấng bề trên đã đặt tên cho nó như vậy (?): thánh Giuse được chọn là bổn mạng của chủng viện. Một tượng thánh Giuse bằng đồng được đặt trên lầu một, theo cách gọi của ta, dưới cùng là tầng trệt, rồi đến lầu một. Ngày tựu trường, sau khi vào nhà nguyện đọc kinh, dự thánh lễ đầu tiên của “tam cá nguyệt”, xuống nhà cơm ăn cơm tối, đi dạo chơi, vào nhà nguyện đọc kinh tối, trước khi lên nhà ngủ tất cả anh em ra núi Đức Mẹ đọc kinh, chào Đức Mẹ. Anh em đứng vây quanh tam cấp, xong bước xuống phía sân, quay mặt lại nhìn lên lầu, đọc kinh cùng thánh Giuse.

Nó được gọi là “nhà trường la tinh” vì đi vào đó, anh em được học tiếng la tinh (vì thường bên ngoài không có) để sau này làm linh mục. Thánh lễ hay các lễ nghi thời xưa đều được cử hành bằng tiếng la tinh. Những học trò ở đây được gọi là “học trò la tinh”, đi tu thì gọi là “đi nhà trường la tinh”. Tu không thành, trở lại “trần” thì người ta gọi là “la yêu”. Gọi như vậy cũng có lý do của nó, theo người đời, hồn người chết mà trở về thăm lại người còn ở dương gian thì gọi là “ma”. Ma mà trở thành dữ thì gọi là “tinh”. Tinh lâu ngày thì thành “yêu”! Yêu là ma thuộc loại cao cấp, dữ dằn lắm, nhiều phép tắc, khó trị lắm, thầy pháp gặp nhiều khi phải sợ!

Nó còn được gọi là “Séminaire Sài Gòn” vì nhiều lý lẻ. Thời đó còn là thời kỳ thuộc Pháp, giáo hội cũng vậy, nên cái gì cũng được gọi bằng tiếng Tây. Vả lại, đi học xa về, về lại họ nhà, ai hỏi đi đâu, trả lời là “đi Séminaire SaiGon” vẫn thấy oai oai, oai hơn là nói là đi tu. Nói là chủng viện Sài Gòn nhưng phải biết rõ là nó gồm có hai bộ phận. Mới vừa vào tu thì ở “tiểu chủng viện” còn được gọi là “trường nhỏ”. Sau trường nhỏ qua “trường lớn” là “đại chủng viện”. Ở tiểu chủng viện còn được là “anh”, hay “chú”. Qua đại chủng viện, mặc áo dòng như các cha, gọi là “thầy”, làm thầy rồi làm cha. Quá trình tu, dài đăng đẳng, biết bao nhiêu là kỷ niệm! Thú thiệt, không ở đâu mà có nhiều chuyện kể như thời sống ở đây!

***

Giờ trở lại mấy tấm hình. Ngày đó, cỗng vào được mang số 6 đường Luro, sau gọi là đường Cường Để. Hình bên phải đây là hình của chủng viện nhìn từ cổng vào. Nếu không có gì thay đổi thì bên sau mấy bức tượng nhìn thấy trong hình là núi Đức Mẹ. Đường đi vào có hai cánh vòng cung. Theo nguyên tắc, đó là lối đi một chiều, cho các xe, đi ngược chiều kim đồng hồ. Người đi bộ thì cứ tha hồ muốn đi theo phía nào thì đi. Nhìn vào hình, ta còn thấy được hai cây “dái ngựa”, xưa ơi là xưa!

Hình bên trái là tòa nhà trên, nhìn từ phía bên trái. Những cây cau này, ngày xưa không có! Chiếc xe hơi nhìn thấy trong hình nhắc lại biết bao kỷ niệm của ngày tựu trường. Phần đông anh em đến tựu trường đi riêng rẻ, thường bằng xích lô, xích lô đạp hay xích lô máy. Cũng có trường hợp có anh em đi đến bằng xe ngựa (xe thổ mộ), đó là mấy anh em bên Xóm Chiếu. Đặc biệt anh em đến từ họ Lái Thiêu, Búng, Thủ Dầu Một, họ thuê nguyên chiếc xe đò, thường ít nhất là hai chiếc. Xe đến nơi, họ xuống xe, “đổ bộ” thành một đám đông đi vào. Ta thấy ở cửa chính đi vào nhà có mấy bậc tam cấp. Đó chính là nơi anh em đứng đọc kinh Đức Mẹ mỗi tối thứ bảy.

Ở tòa nhà trong hình, trên cao xem như lầu hai mà ở đây ta thấy mái ngói, đó là “nhà ngủ” của anh em tiểu chủng viện. Mặc dầu nó to rộng hơn nhưng được gọi là nhà ngủ nhỏ, vì nó được dành cho anh em các lớp nhỏ và mới vô. Còn một nhà ngủ nữa, tuy nhỏ hơn, lụp xụp hơn, bên cạnh tòa nhà của đại chủng viện, gọi là nhà ngủ lớn, dành cho mấy anh em các lớp đầu đàn.

Ở lầu một trong hình, ngay bên trên cửa vào, chúng tôi còn nhìn lại được tượng thánh Giuse. Bây giờ ta đi vào tòa nhà. Vừa bước vào, phòng đầu tiên ở bên tay phải là phòng khách của các cha. Đây là nơi các cha tiếp khách, nhưng đó cũng còn là nơi quàng xác các cha vừa qua đời. Ban ngày, bà con các họ đạo quanh Sài Gòn, hay tin, đến cầu lễ. Tối lại lần lượt là phiên cầu của chủng viện. Do hoàn cảnh của vị trí, các lớp thay phiên nhau đọc kinh, nhưng khuya lại là phiên giữ xác của các thầy đại chủng viện. Thời đó, chúng tôi đã “đón” các cha Quyến, cha Phaolô Mười. Cha Quyển là cha giáo cũ, cha Mười thì lo phụ trách về tu đức, cha giảng dạy mỗi ngày từ thừ hai đến thứ sáu, mỗi ngày 15 phút, trước giờ cơm.

Đứng ngay cửa vào, phòng tận cùng bên trái là phòng cha bề trên Paul Pouclet, phòng tận cùng bên phía tay phải là phòng cha quản lý, thời đó là Đôminicô Nguyễn Văn Hiệu. Qua khỏi phòng khách các cha là ngả tư. Phòng đầu tiên bên trái của ngả tư là phòng khách của chủng viện, cả tiểu và đại chủng viện. Trong ngôi nhà này, ở tầng một, là phòng của các cha. Theo thời gian, các cha có thay đổi, nhưng tôi còn có thể nhớ lại tên các cha lớp:
- cha Giuse Trần Ngọc Tiên*;
- cha Philipphê Nguyễn Kim Điền*, sau cha đổi qua dòng “Tiểu Đệ” rồi làm Giám Mục địa phận Cần Thơ, rồi Tổng Giám Mục Huế;
- cha Augustinô Lục*;
- cha Giacôbê Trí*;
- cha Phaolô Tịnh;
- cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi, Giám Mục địa phận Phan Thiết;
- cha Phêrô Phạm Văn Triêu*;
- cha Phêrô Nguyễn Minh Cảnh*;
- cha Phaolô Nguyễn Văn Mười*;
- cha Quyến*;
- cha Louis Phạm Văn Nẩm*, sau là Giám Mục phụ tá địa phận Sài Gòn;
- cha Đôminicô Nguyễn Văn Hiệu;
- cha Gioakim Hiếu;
- cha Nguyễn Sơn Xuyên;
- …

Một hình ảnh còn đọng lại trong ký ức nhiều anh em, là năm đó, cứ chiều chiều, ánh trời chiều còn le lói, cả khuôn viên chủng viện “yên lặng như tờ”, cha Bình, cha sở họ Cầu Đất (BLao, sau này gọi là Bảo lộc) đi theo con đường này đến nhà nguyện để tĩnh tâm, dọn mình chịu chức Giám Mục.

Chuyện “ở chủng viện” kể ra, chắc là ba năm tròn cũng chưa hết, chỉ mới dám nói ở đây chuyện ở “mặt tiền”! Các tấm hình, như đã nói ở trên, đã gợi cho tôi, và chắc là nhiều người nữa, nhớ lại những ngày đã cùng chung sống dưới “mái nhà xưa” đó. Những người đó nhớ lại, kể ra có: anh Micae Lê Văn Châu (cha sở họ Phú Lâm), anh Phêrô Nguyễn Văn Nguyên (đang ở họ đạo Ascension Catholic Church, Boca Raton, Florida), anh Chúc (địa phận Mỹ Tho), anh Giuse Nguyễn Văn Vi*, anh Trần Công Báu (Bỉ), anh André Hai, anh Phêrô Hai, anh Hoà, anh Dư, anh Phêrô Trâm* (địa phận Sài Gòn), anh Khiêm, anh Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (Giám Mục Đà Lạt), anh Giuse Phạm Văn Ninh (đức ông, Portland, Oregon), anh Gioan Lê Đăng Niêm (họ Thủ Thiêm), hai anh em Khi, Ri, anh Quyền (địa phận Bình Dương), anh Gioakim Qưới (địa phận Xuân Lộc), anh Tôma Nguyễn Văn Trâm (Giám Mục Bà Rịa), … Đây là những anh đã “đến nơi đến chốn”, còn nếu phải thêm những người như tôi, danh sách sẽ dài lắm.


Những tên có * ở sau, là những cha đã qua đời khi bài này được viết (tháng 2 năm 2009)