Mái Nhà Xưa (2)


Các Cha Giáo

Lần trước, khi nói về “tổ ấm” chủng viện Sài Gòn, bài viết chỉ mới đề cập đến “mặt tiền”. Ngôi nhà đó quả đúng là mặt tiền, và đó là bức rào ngăn cách bên trong với bên ngoài. Bên trong là nơi dành cho những kẻ “tu hành”. Bên ngoài là nơi dành cho khách “thập phương.” Nói nghe cho vui, nhưng dù sao, đó cũng chính là bức tường phân chia, vì bên trong chính là nơi của “chúng tôi”, phân chia chúng tôi với bên ngoài.

Ngày tựu trường, cha mẹ anh chị em có đưa tiễn, cũng sẽ dừng chân lại ở ngôi nhà này. Quyến luyến, lo lắng gì thì cũng cùng lắm là phụ đem đồ đạc, vali lên nhà ngủ ở lầu 2, xong rồi ra về. Nhớ thương, thỉnh thoảng đến thăm thì cũng dừng chân lại tại phòng khách, bên trong ngôi nhà này.

Chủng viện tuy không phải là một ngôi nhà “kín cỗng cao tường”, riêng biệt, nhưng như có bức tường vô hình ngăn chận các chủng sinh ra vào, có thể nói như vậy. Ra thì chỉ “ra về” dịp bãi trường mà mỗi năm có 3 lần, vì thời đó chúng tôi học theo chế độ “tam cá nguyệt”, học 3 tháng, về nghỉ hè 1 tháng. Ra thì hằng tuần chiều thứ năm và chiều Chúa nhật, nhà trường tổ chức cho đi “dạo” ở bên ngoài. Mỗi lần như vậy, anh em chủng sinh chia làm 3 toán: 2 lớp nhỏ nhất, 2 lớp kế, và 4 lớp lớn nhất. Bức tường hữu hình mà vô hình đó là ngôi nhà trong hình trên đây.

Ra mà đi ra một mình, không phải ngày tựu trường, không phải dịp bãi trường, thì bước ra khỏi ngôi nhà này, kể như là “ra về luôn”, chấm dứt cuộc đời chủng sinh, chối bỏ cuộc sống tu hành, mà thời đó người ta thường nói là “sauter la haie” (nhảy rào). Người “ra về” có thể là người bị “bắt buộc” phải rời chủng viện hay “tự ý”. Dưới bất cứ hình thức nào, thông thường, người “ra về” âm thầm đi ra trước đường kêu xích lô vào để chở vali, leo lên xe. Xe xích lô đi ra rồi thì kể như là một bước ngoặc lớn được mở ra trong cuộc đời. Xe xích lô đi ra vào chủng viện như vậy mà một cha đứng trên lầu 1 thấy được, cha sẽ buớc xuống, hỏi han. Lầu 1 là nơi các cha ở, nó cũng là một loại màn chắn, ngăn chận nhiều trường hợp ra về tuy không trái phép, không lỗi đạo, nhưng bất thường mà chắc là phải có nguyên nhân.

  

Các cha “cư ngụ” ở lầu 1 này không phải là để làm công tác canh gác như vậy, mà đó là các cha lớp. Đi tu thì cũng phải học chớ, và các cha là thầy dạy, mà chúng tôi gọi là “cha lớp”. Sau này có một giai đoạn, chủng viện có mời số vị vào để phụ dạy các môn khoa học, như tiến sĩ Phan Ngọc Phương dạy Toán. Bức ảnh nói về lễ Đức Mẹ ở Tà Pao đã làm cho cá nhân người viết thấy bùi ngùi, khi nhìn thấy lại được một người thầy cũ. Tuy đã biết là không ai có thể tránh được “bàn tay” của thời gian, nhưng không hiểu sao khi nhìn thấy “thầy”, tôi không sao tránh được đôi phút chạnh lòng, nhớ cha, rồi nhớ lại các cha, nhớ lại các thầy cũ.

“Ngày hành hương dành cho liên tu sĩ trong Năm Thánh Đức Mẹ Tapao” ngày 13-2-2009 là một sinh hoạt tôn giáo thì thế nào cũng có “khối” giáo dân sùng kính Đức Mẹ tới, có đông đảo các cha, và các Đức Cha. Nhìn hình một Đức Cha được hai vị (thầy hay cha?) dìu hai bên, tôi cũng chưa nhận ra được đó là đức cha nào, nhưng bài tường thuật có viết “.. Đoàn đồng tế ngừng lại để đón mừng Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Cả rừng người vỗ tay không ngớt, lâng lâng niềm xúc động cảm mến. Dù tuổi cao sức yếu, Đức cha già vẫn đến dâng lễ cầu nguyện cho liên tu sĩ.” Nước mắt tôi bắt đầu rơi từ đây. Tôi nhìn thấy lại:

Năm đó chắc là năm 1953, cha mới về nước, và được bổ nhiệm dạy tại tiểu chủng viện Sài Gòn. Phòng cha ở nằm ngay sau bức tượng thánh Giuse, ngay ngả tư đường đi trên lầu 1 trong tòa nhà. Mỗi lần đến lớp dạy, cha thường mang giày sandal. Cha mang kiếng. Dáng cha đi hơi “lủi lủi”. Dáng cha đi … như vậy đó mà thú thiệt tôi không biết tả làm sao, dùng danh từ nào nên gọi là lủi lủi, nhanh nhẹn. Đi đến lớp, cha ôm sách vở ở tay trái. Vô lớp xong, cha quì ngay ở bục gỗ kê bàn của cha giáo, quay mặt về Thánh Giá được treo ở trên tường trong phòng học, đối diện với lớp học. Dáng điệu cha quì, tôi còn thấy lại được trong trí tôi. Giọng cha nói, tôi còn nghe được. Cha dạy lớp tôi tiếng latinh. Khi giảng, cha hay nheo mày khi gặp những gì khó mà làm cho chúng tôi hiểu. 55 năm rồi mà tôi cũng còn loáng thoáng nhớ được những gì đã học với cha: “Corsica insula”, “magnus servorum numerous”, hay khó hơn “Partibus factis, leo dixit”, hay còn nói gì “In illo tempore, Jesus dixit discipulis suis”,... Chèn ơi! Tiếng latinh mà cha đọc như là đọc tiếng Việt! Làm sao tôi quên được những câu danh tiếng như: “Veni, vidi, et vinci”, biết được cũng là nhờ cha lớp Nicolas Huỳnh Văn Nghi…

Cha! Con viết bài này, ghi lại chút kỷ niệm những ngày con ở trong chủng viện Sài Gòn và chút lòng con nhớ tới cha.

Ngoài cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi, các cha lớp còn có cha Louis Phạm Văn Nẫm.

Không phải tôi kể tới cha Nghi rồi cha Nẫm vì hai cha đã làm Đức Cha, nhưng vì ngoài cha Nghi, cha Nẫm là một thầy dạy đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Thú thiệt, sau này khi bước chân vào nghề “gõ đầu trẻ”, cách thức cha dạy đã hướng dẫn và giúp tôi bước đi vững chắc trong nghề. Cha dạy thật đơn sơ: cha không nói nhiều, cha không cho học sinh ghi chép nhiều, toàn là những điều cơ bản. Một cái điều là học trò của cha, dầu không phải là giờ Việt văn, phải viết cho đúng chính tả, bằng không dù là được điểm cao nhưng cha cũng thưởng cho … một khẻ (đánh tay bằng thước). Làm sao quên được, lần đó tôi được điểm 20 (thời đó điểm cho trên 20), nhưng chữ “những” tôi viết là “nhửng”. Giờ trả lại bài, cha giảng giải tất cả các câu. Nghe cha giải thích, tôi ngồi “run đùi”, thấy khỏe trong lòng, đoán chắc là thế nào cũng được điểm cao. Thật vậy, tôi được 20/20. Cha đi đến chỗ tôi ngồi. Cha trao bài làm lại cho tôi. Cha cười “mĩm chi” nói:

- Đưa tay đánh cái chơi! Nhớ những dấu ngã nghe con!

Rồi cha khẻ tay nghe cái bép. Đau chớ sao không đau, nhưng mà con số 20 trên bài làm tôi quên hết đau. Cha! Ngàn năm con cũng không quên chữ “những dấu ngã!”

Cha Đôminicô Nguyễn Văn Hiệu, thời tôi, là cha quản lý, tuy nhiên cha cũng có dạy lớp. Cha dạy Địa lý. Cha thì thấp người, còn một anh bạn lớp tôi thì cao, cao hơn cha. Cha kêu anh lên bảng, hỏi bài, định các hướng đông-tây-nam-bắc. Nhìn ra ngoài thì có ánh mặt trời, một phương tiện giúp để định phương hướng, cha kêu anh bạn đó giang hai cánh tay ra, rồi cha quay vòng anh ta để cho anh ta quên rồi thình lình cha bắt anh ta dừng quay, cha mới hỏi tay mặt anh đang chỉ hướng nào: đông? tây? nam? bắc? Nhưng khi anh đang quay tròn, cha đứng gần anh. Cánh tay anh khi quay sẽ đụng cha, đụng vào đầu cha, nhưng không, mỗi khi anh quay tới cha thì cha cút đầu xuống để “tránh đòn”. Cả lớp cười rộ! Chèn ơi! Làm sao quên được

Các cha lớp khác thì có cha Phaolô Tịnh mà không hiểu tại sao anh em gọi cha là “cụ Tịnh.” Cha dạy Toán. Mỗi khi đến lớp cha thường đem theo cây “règle plate” (loại thước dẹp bằng gỗ, dài khoảng 5 tấc). Thước này được dùng để chỉ hình vẽ trên bảng, mà cũng được dùng để “khen thưởng” những ai không thuộc bài hay làm bài mà cứ lập đi lập lại những điều sai. Mặt cha lúc nào cũng nghiêm nghị. Năm đó, tới cuối năm, tụi tôi đếm: năm nay trong lớp, cha cười tất cả là bốn (4) lần.

Còn phải kể cha Augustinô Nguyễn Văn Lục. Cha dạy Việt Văn. Cha hướng dẫn và khuyến khích chúng tôi đọc sách, sách đạo sách đời (mà cha đã tự tay “tìm” ra cho chúng tôi). Nhiều khi với một câu, cha “bắt” chúng tôi phải rán viết lại hai ba cách. Sau này nghiệm lại mới thấy thiệt là hay, thiệt là hữu ích: dạy học trò, nói cách này học trò không hiểu, mình nói cách khác. Ai mà không biết như vậy, nhưng thật ra cái gì cũng phải học, phải luyện tập, mà cha đã dạy cho tôi. Cứ chiều chiều, giờ học tại “nhà học”, nghĩa là không đi lớp, tự học một mình, chúng tôi thường xin phép thầy giám thị lên phòng cha để mượn sách, đổi sách. Nhờ đó, sự gần gũi của chúng tôi với cha lại tăng thêm.

Còn phải kể cha Phêrô Nguyễn Minh Cảnh, cha cũng dạy Việt Văn và tập hát cho chủng viện, cha Nguyễn Sơn Xuyên, dạy Toán, cha Philipphê Nguyễn Kim Điền (sau là Tổng Giám Mục Huế), cha Joachim Nguyễn Văn Hiếu, cha Giuse Trần Ngọc Tiên, cha Phêrô Phạm Văn Triêu, dạy Pháp Văn, cha Giacôbê Trí, cha Quyến dạy latinh, cha Nam, … Đó là các cha Việt. Còn ngoại quốc thì có cha bề trên Paul Pouclet (cha dạy mấy lớp lớn mà tôi chưa đạt tới), cha Thouvenin, ... Biết bao nhiêu kỷ niệm mà chúng tôi đã có với các cha …

Nhắc về cha Quyến. Năm đó, cha cũng đã luống tuổi rồi, nhưng bề trên còn giữ cha lại để dạy môn sở trường của cha là tiếng latinh. Hôm đó, cha đang dạy kinh Lạy Cha. Đến câu cuối cùng:

- “..sed libera nos a malo”

Cha vừa đọc xong, chưa kịp giảng giải thì một anh đã buột miệng:

- Xách vali đi ra xích lô!

Cha mừng rỡ, mặt hơi cúi xuống, cặp kiếng chảy xệ trên sóng mũi cha:

- Giỏi! Đứa nào đó con!

Không ai lên tiếng! Hết năm đó, cha về hưu. Một năm sau, cha được đưa trở lại chủng viện trong “giấc ngủ ngàn thu” như đã có nói tới trong bài trước!

18-2-2009