Mấy ai biết được

Vui buồn lẫn lộn là chuyện thường tình trong đời người. Đâu có ai mà cuộc đời cứ vui hoài hay buồn hoài, vui hoài thì cũng chán, mà buồn hoài thì cũng khổ. Tối ngày mà cứ vui chắc là sẽ khùng, nhưng nếu buồn hoài quanh năm suốt tháng thì chắc là sẽ điên. May mắn là đối với phần đông, nói chung, vui buồn lẫn lộn. Vẫn biết đời là như vậy, nhưng để thấy chuyện mình vui buồn như thế nào, nhiều khi khó, còn thấy được chuyện người thì nhiều khi thấy rõ như ban ngày, như ông bà mình có nói “chuyện người thì sáng, chuyện mình thì quáng.” Cho nên, chuyện tôi, tôi ít thấy được, tôi không thấy, nhưng để nghiệm ý nghĩa thăng trầm, thay đổi trong đời người, tôi thấy ở anh bạn tôi.

Tôi quen anh đã khá là lâu, từ sau ngày anh từ trại gia binh về ở họ đạo tôi, trước năm 1975. Anh đi lễ hằng ngày nên chúng tôi có cơ hội gặp nhau mỗi ngày. Rồi cứ lễ xong là anh em quay quần bên ly cà phê ở quán cóc bên đường để rồi chia tay nhau, ai cũng phải lo đi làm nên chúng tôi có dịp chuyện trò. Từ sơ giao đến thâm giao, ngày qua ngày, bao nhiêu đứa con của anh tôi biết hết. Tôi có bao nhiêu đứa con, anh thuộc hết.

Nhiều người chỉ biết anh ở nhà thờ, chớ còn tôi, tôi biết cả nơi ăn chốn ở, và dĩ nhiên là nghề nghiệp của anh. Về ở xứ này, anh mua được một căn nhà ở mặt tiền đường để mở tiệm bán tạp hóa, rồi dành ra một khoảng để đặt một bàn hớt tóc. Một hôm tình cờ đi ngang nhà thấy anh, tôi ghé vào thăm, thăm anh và gia đình. Thấy đầu tóc tôi hơi dài, rảnh tay, anh đè đầu tôi xuống hớt tóc luôn. Theo tình đời ai cũng biết, tiệm hớt tóc, uốn tóc là nơi “nhiều chuyện” nhứt.

Tay anh rê cái “tông đơ” tới lui trên đầu tôi, miệng anh hỏi chuyện của tôi. Chuyện đời tôi được kể xen lẫn với chuyện của đời anh. Phần chuyện đời tôi, tôi giấu không kể ra đây. Phần chuyện đời anh, tôi thấy có thể tóm lược như sau. Anh được giải ngủ vì viên đạn trúng vào gót chân, khiến cho bước đi của anh trở nên khập khểnh. Rủi mà nhà bị ăn trộm, anh còn có thể rượt ăn trộm chạy có cờ, nhưng nhờ vết thương đó, anh được cho giải ngủ để sống bình yên hơn nơi hậu phương. Anh về đây, vừa bán tạp hóa vừa hớt tóc để nuôi con.

- Cái điều tôi thấy vui mừng nhất là từ nhà tôi đi bộ đến nhà thờ chỉ có độ bảy tám phút. Hơn nữa, trường học cũng ở gần đây.

Nhưng rồi anh lại nói thêm:

- Chú thấy nhà tôi coi vậy chứ chỉ có được cái mặt tiền, phía sau còn trống kém lắm, còn nhiều thứ phải lo lắm. Nhưng dù sao, tôi rất vui và rất là cảm ơn Chúa đã cho gia đình tôi có được nơi để nương thân.

Tuy làm việc cả ngày, anh cũng hăng hái tham gia các sinh hoạt trong họ ngoài việc đi lễ ở nhà thờ như làm việc Đức Mẹ vào chiều thứ bảy, làm giờ thánh tại tư gia tối thứ năm, và cầu lễ khi có người qua đời. Anh đi đọc kinh ở nhà người ta, rồi người ta cũng đến nhà anh. Đến làm giờ thánh tại nhà anh, người ta trầm trồ: tượng Thánh Tâm Chúa ở nhà anh “rất” là to và đẹp, cao khoảng hơn 8 tấc. Tượng Đức Mẹ cũng có nhưng nhỏ hơn, khiến người ta phê: anh thuộc hạng tôn sùng Thánh Tâm Chúa:

- Tượng này là của bố tôi để lại. Năm 54 vào đến đây rồi, chưa có tiền nhưng bố tôi đã lo chuộc cây thánh giá và tượng Thánh Tâm để thờ.

Anh nói thêm:

- Tôi thì luôn tin tưởng vào Thánh Tâm Chúa, mọi việc tôi đều cậy trông ở Ngài!

***

Có chỗ nương thân yên ổn rồi, con cái lớn thêm lên thì đứa con gái lớn tỏ ý muốn “dâng mình cho Chúa”, nói theo cách xưa là muốn đi tu. Anh lo. Anh nói: hồi đó tới giờ mình có đi tu bao giờ đâu mà biết, nên làm sao mà không lo. Anh lo là chuyện bình thường vì như vậy thì con nó sẽ đi sống xa nhà, ai lo cho nó. Lo là vì đây là một cái gì mới lạ đối với gia đình anh. Anh lo, tụi tôi cũng lo theo, xúm nhau đọc kinh cầu nguyện cho con nó gặp mọi điều may mắn và được bền đỗ trong ơn gọi. Có anh em khuyên:

- Con bé nó tu trong nhà phước sát nách nhà thờ mình đây mà lo nỗi gì? Hôm nào nhớ, hai ông bà cứ việc vô thăm.

Vậy là xong một việc. Rồi tới thằng con đầu lòng cưới vợ, kế đó là đứa con gái thứ lấy chồng. Anh lại lo, và cứ mỗi lần có việc lo lắng như vậy là anh mời anh em đến nhà làm giờ thánh, cùng với anh cầu nguyện cùng Thánh Tâm Chúa. Anh nói như “ông cha”: phó thác cho Chúa! Chuyện cưới gả xong đâu hơn một năm thì tới phiên thằng Tuấn, thằng con trai út nó “đòi đi tu”. Quen rồi, anh cho nó đi tu. Vậy là thằng nhỏ lên đường, xách vali đi vô sống nội trú trong Chủng Viện, cả nhà anh theo tiễn con.

Thời gian như anh thường hay nói: “Ối lạy Chúa tôi!” qua mau một cách đáng sợ. Mới ngày nào, gia đình anh mới đưa “thằng” Tuấn vào Chủng Viện, rồi cái tới ngày “thằng” Tuấn trở thành “thầy” Tuấn. Về nghỉ hè, đi nhà thờ Tuấn không còn mặc “đồ tây” như xưa, mà mặc chiếc áo dòng đen. Đây là một thay đổi nữa trong đời của anh. Rồi hôm đó, cha sở rao trong nhà thờ việc thầy Tuấn sắp chịu chức. Như vậy là “thằng-thầy” Tuấn sắp được làm cha, sắp được gọi là cha. Một sự đổi thay làm cho gia đình hãnh diện và cả họ đạo vui mừng.

Tiệc vinh qui xong, gia đình hớn hở vui mừng đưa cha trẻ về họ đạo mới. Thấy vậy, có anh em vui miệng nói là đưa dâu về nhà chồng. Khi đưa cô dâu đi, thường mẹ cô dâu khóc tiễn con, đàng này vợ chồng anh bạn tôi vui tươi hớn hở. Có vài người gọi anh là “ông cố”, nhưng tôi theo thường tình của người miền Nam, anh vẫn là anh, tôi vẫn gọi anh là anh như xưa rày.

***

Tính lại, anh về ở họ đạo tôi cũng có gần 20 năm. Hai mươi năm qua, anh và tôi có vẻ già đi. Mấy đứa con anh cũng như mấy đứa con tôi lớn thêm lên. Bọn nó phải có công ăn việc làm. Phần anh, anh chỉ còn đứa con gái út. Con trai làm lễ vinh qui xong được đâu mấy tháng thì đứa con gái đưa về nhà giới thiệu người bạn trai. Hai đứa làm việc chung trong cùng một xí nghiệp mà con gái nhà anh là nhân công, được gọi là công nhân viên, còn anh trai kia là cán bộ. Anh nói: được hết cả, tướng tá, nghề nghiệp, ăn nói lễ phép, duy có cái điều anh buồn quá mức là đó là con của cán bộ trung cấp, mà nó cũng là cán bộ, nghĩa là không có đạo. Đó là điều anh không thích.

Anh buồn ra mặt. Anh than thở với cha, với anh em. Cha thì khuyên: rán cầu nguyện. Anh mời anh em tới nhà làm giờ thánh. Nhìn anh, tôi thấy tóc anh hơi hoa râm. Đọc kinh mà thỉnh thoảng tôi nghe anh thở dài. Cách đọc “Ghiê Shu” của anh hôm nay nghe như khác lạ hơn mọi ngày.

Chuyện quen biết của hai đứa kéo dài cũng gần cả năm mà chưa đi đến nơi đến chốn được vì sự khác biệt to lớn về tôn giáo. “Ông xui trai”, tôi cứ tạm gọi như vậy, thì cứ tìm dịp đến chơi với anh và bóng gió đề cập vấn đề, còn anh thì cứ tìm cách né tránh, kéo dài giờ ra. Đôi lúc đi tòn ten với anh đâu đó, anh nói: “Chú rán cầu nguyện với tôi, chứ mà con Thúy nhà tôi lấy chồng cái kiểu này thì tôi chết mất!”

Ngày qua ngày, hai đứa càng trở nên thân thiết hơn. “Ông xui nhà trai” cũng tỏ ra thân thiện hơn với anh bạn tôi. Có qua có lại, ông ta đã đến nhà anh, nên ông ta mời anh đến nhà ông. Chị ấy thì bận ở nhà coi sóc việc bán buôn, nên để đi cho có đôi, lần đó anh rủ tôi đi theo. Nhà ông ta là “nhà của cán bộ”, một ngôi nhà khá là to và đẹp. Ngôi nhà này không bao giờ bị khám xét. Những khi công an phường xét nhà người này người nọ trong khu xóm, họ xét khắp tất cả các nhà khác nhưng họ cũng phải kiêng nể nhà ông, bước vô nhà chào hỏi xong là lo quày quả ra đi nên không một ai có thể biết được bên trong có gì!

Có lẻ đoán được ý nghĩ trong lòng của anh bạn tôi, và để lo cho hai trẻ sớm nên bề gia thất, và có lẻ để tạo được sự yên tâm ở anh bạn tôi nên ông xui trai mời anh và tôi đi vào bên trong phòng riêng của hai ông bà, căn phòng mà không phải ai cũng có thể bước vào.

Ối giời ơi! Anh bạn tôi đã thốt lên để biểu lộ nỗi ngạc nhiên không cùng mà mặt anh lộ ra vẻ sung sướng trong khi ông bà xui trai cười toe toét. Phần tôi, tôi ngạc nhiên đến độ thấy tim đập mạnh. Trong buồng riêng của hai ông bà xui, có một bàn thờ. Đó là bàn thờ Chúa, có thánh giá đàng hoàng, có chong đèn điện tử, tia sáng xẹt xẹt! Điều làm cho anh bạn tôi sung sướng nhất là cũng lại có tượng Thánh Tâm.

Trên đường về, ngồi trên xe Honda phía sau lưng tôi, anh bạn tôi trở nên … nói nhiều. Mọi chuyện xảy ra tốt đẹp sau đó. Theo lệ thường, lễ cưới được cử hành trong nhà thờ ở bên họ nhà gái, tức là họ đạo tôi. Có phép hôn phối hẳn hòi, vì chú rễ đã xuất trình được bằng chứng có đạo. Tiệc cưới linh đình, rất đông người dự. Lễ cưới xong, ông xui nhà trai lại lo cho hai vợ chồng nó vượt biên. Hai đứa vượt biên, anh lo. Được tin tới nơi, anh lại vui mừng. Anh em chúng tôi lại được dịp chia vui. Theo như ông xui trai, bọn nó phải đi ra nước ngoài để chúng nó có thể giữ đạo được yên ổn, “chứ như xưa rày, bọn tôi chỉ giữ đạo trong lòng.”

Đến đây, tôi nghĩ chuyện vui buồn của anh bạn tôi không còn gì để kể nữa, xin nói mấy câu về ông xui của anh ta. Con cái đâu đó đã yên bề, tuổi cũng đã cao, ông xin về hưu. Ông trả nhà lại cho nhà nước, ông mua một căn nhà trong vùng họ đạo tôi. Ngay giữa nhà, ông làm một bàn thờ Chúa to lớn. Trên tường bên, ông trưng bày những huy chương ông đã nhận, những huy chương đánh dấu một thời “oanh liệt”. Bàn thờ Chúa, theo ông, phải là trên hết ở trong nhà, để nhắc nhở và cho mọi người biết “tôi vẫn luôn là người tôn thờ Chúa!”.

Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu là nguồn an ủi kẻ cậy trông!