Một đời

Chữ “đời” nói ra khiến nhiều người nghĩ đến cuộc đời. Nói tới cuộc đời, nhiều người thường nhớ tới câu nói của Cao Bá Quát:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy!

để ngẫm lại sự ngắn ngủi của “đời người”. Bởi đời người được tính trong một khoảng thời gian hạn chế nào đó, từ lúc sinh ra tức lúc bắt đầu đến lúc chết là lúc chấm dứt. Khoảng thời gian đó dài ngắn khác nhau. “Ba vạn sáu ngàn ngày” tính nhẫm ra là 100 năm, sống được số ngày này thì sẽ là 100 tuổi, gẫm có mấy người đạt được số tuổi này!

Giáo xứ tôi có khoảng 800 gia đình, vậy mà gần như tháng nào cũng có người “từ giả để ra đi”. Quanh đi ngoảnh lại, người ra đi phần đông nằm trong danh sách những người mà giáo xứ cầu nguyện hằng tuần. Đó là danh sách những người già yếu, bệnh hoạn, nên khi nghe tin, người ta không tỏ ra ngạc nhiên. Cũng có người không có tên trong danh sách này nên khi nghe tin, người ta thắc mắc rồi cùng nhau bàn tán. Xa gần quen lạ gì bà con cũng góp lời cầu cho người nằm xuống được hưởng phước đời sau, chớ còn đời này thì kể như xong rồi, còn gì đâu nữa mà tiếc mà lo.

Bởi khi đó, khi cuộc đời này đã xong, thành bại gì cũng bỏ hết, buồn vui gì cũng phải để lại, ấm no đói lạnh cũng không còn lo, giận hờn ai rồi cũng phải quên, và ngược lại, bị ai giận hờn cũng không làm sao mà xin tha thứ.

Đời người, suy cho cùng là vấn đề dài hay ngắn? Nếu nó dài, người đời sẽ nói là lâu, sống lâu, và khen là “thọ”. Nếu nó ngắn, người ở lại sẽ nói là mau, mới đó mà, và nói là “yểu”. Sớm muộn, ngắn dài gì khi cuộc đời chấm dứt, vấn đề quan trọng dính líu tới người ở lại, bởi đời sẽ hết với người ra đi nhưng vẫn còn những vương vấn với người ở lại. Mỗi người sinh ra ở đời đâu phải chỉ sống cho mình mà thôi, còn người thân ở lại, còn cháu con. Có những yêu thương chưa kịp tỏ bày, có những lỗi lầm chưa kịp tha thứ, có những lỗi lầm chưa kịp xin được tha thứ.

***

Cũng nói tới chữ đời, có người nghĩ tới việc có đầu có đuôi, có lúc khởi sự và có hồi kết cuộc. Thời gian giữa lúc khởi đầu và hồi kết cuộc của một công việc được xem là một “đời”. “đời” này là khoảng thời gian nằm trong cuộc đời người. “đời” có thể hết khi cuộc đời của người ta chưa hết.

Cứ lấy thí dụ với nghề dạy học, thầy cô vào nghề với tuổi thanh xuân, để làm công việc có ích cho đời, từ lúc tiếng nói còn “trong trẻo” cho đến khi được xem như đã “tàn hơi”, trở về vườn an dưỡng tuổi già sau khi đã trải qua “một đời dạy học”. Cũng may mắn là ở quê nhà, sau này người ta có tổ chức ngày gọi là “ngày nhà giáo” để tri ân những người đã góp công trong việc dạy học. Còn sống trong nghề, học sinh và đôi lúc cả phụ huynh cũng tới chúc mừng và cho quà. Về hưu rồi, đến ngày này học sinh cũ cũng nhớ tới đến thăm để tỏ lòng tri ân, tri ân những người đã “một đời” giúp đào tạo thế hệ mai sau.

Ông Ba Vân, nhiều người biết, là một nghê sĩ danh tiếng một thời của Việt Nam. Ông được trao tặng danh hiệu “quái kiệt” do khả năng kiệt xuất của ông khi diễn vở tuồng “Khi người điên biết yêu” ở thập niên 50. Lúc ông cũng đã ngoài 80, có lần ông nói: một đời đi hát, dong ruổi đó đây, giờ thì “qua” dừng bước lại rồi. Ông dừng bước nghĩa là ông không còn “đi hát” nữa, ông không còn sống đêm đêm dưới “ánh đèn màu”, ông không còn đem tiếng ca phục vụ cho đời. Đời nghệ sĩ của ông chấm dứt nhưng cuộc đời của ông thì vẫn còn, còn kéo dài vài năm nữa sau khi ông tuyên bố giải nghệ.

Nói tới “đời” theo nghĩa này, tôi nhớ tới anh. Lần đó về Việt Nam, tôi ghé thăm anh. Anh là bạn xa xưa thời còn ở trong Chủng Viện. Nhớ hồi chưa đi khỏi nước, tôi thường có nhiều dịp chuyện trò, ăn chung với anh. Mỗi lần về là mỗi lần có khác. Lần thứ nhất tôi về, anh đã trở thành cha sở, tôi thấy anh còn nhanh nhẹn. Lần thứ hai tôi về, anh còn là cha sở, nhưng tôi thấy anh đi chậm quá. Lần thứ ba tôi về, anh còn có được chỗ ở, nhưng lần thứ ba này, anh không còn bận rộn với công việc họ đạo. Thăm anh, tôi phải vào nhà dưỡng lão. Có vẻ như hơi buồn, anh tâm sự:
- Đời tôi kể như qua rồi!
Thấy tôi cười, anh giảng giải:
- Đời đây là đời làm việc trong cương vị linh mục để coi sóc họ đạo.
À thì ra là vậy! Đời linh mục này là thời gian từ sau ngày chịu chức, rồi được bổ nhiệm đi nơi này nơi nọ, đâu đâu cũng để thi hành một nghĩa vụ: linh mục. Đời linh mục trước sau, ngắn dài gì thì cũng có hồi kết cuộc.

Tất cả đều sẽ đi qua: đời giáo, một đời giúp đào tạo lớp người mai sau, rồi cũng sẽ qua; đời nghệ sĩ, một đời giúp vui cho người, đem lại nụ cười, những phút giải khuây cho đời hay những giọt nước mắt, cũng không kéo dài mãi được; đời linh mục, một đời tận tụy hy sinh giúp lo cho người, cũng phải đến hồi kết cuộc. Bây giờ theo anh là lúc anh nhìn lại cuộc đời. Anh lại nói “coi vậy mà tôi có phước, còn có được thời gian để nhìn lại, để mỉm cười và hối cải.” Tôi nghĩ: chắc là anh ngụ ý không ra đi đột ngột.

***

Chuyện người ta về thăm quê hương là chuyện bình thường, nhưng lần này tôi về là “một công hai ba chuyện”. Thăm bà con, làm sao khỏi. Thăm lại quê hương là một mục đích, để nhìn lại cảnh cũ người xưa, bởi quê hương là nơi chứa đựng bao nhiêu điều gợi nhớ, ai có quê xa mà không nhớ. Như cái chuyện ở xứ người có nhà thờ nơi tôi đi lễ hằng … tuần, còn ở quê, tôi đi lễ hằng ngày nên Chúa, Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh có trong nhà thờ, tôi rất quen thuộc, nên mỗi khi về thăm lần nào cũng vậy, tôi thường hay đi vòng vòng trong nhà thờ xem coi các tượng có còn không, có còn đứng đúng vị trí ngày xưa không.

Đã biết trước, đã có hẹn, khó khăn mấy tôi cũng rán về để gặp lại, và để mừng anh. Đâu có phải ai cũng có thể đạt được những điều mà anh có được, nên anh dặn “thế nào anh cũng phải về nghe!” Về chớ!

Về lần này, việc dự lễ của anh là chánh, là quan trọng. Lễ nào mà không có chuyện mừng. Lễ là để mừng. Lễ phong chức là để mừng “đến nơi đến chốn”. Lễ “bạc” còn được gọi là lễ “ngân khánh” là để kỷ niệm 25 năm linh mục. Lễ “vàng” còn được gọi là lễ “kim khánh” là để kỷ niệm 50 năm linh mục. Lễ “ngọc khánh” là để kỷ niệm 60 năm linh mục. Lễ lần này đối với anh là lễ “thượng thọ bát tuần”.

Làm linh mục thì bạn bè cũ không ít người đã làm linh mục, còn những người “nhảy rào” cũng đâu ít. Chưa đến ngày lễ đã thấy nôn nao trong lòng vì sẽ có dịp gặp lại anh em đã có những ngày cùng chung sống với nhau, học chung với nhau. Ngày lễ này là dịp qui tụ những “anh em” cũ.

Hôm đó là lễ mừng 80 năm đời người của anh. Nhớ lại, cách đó 3 năm, anh mừng lễ vàng khi anh còn là cha sở họ đạo. Anh em đến còn đông đủ. Những “người cổ thụ” khi đó còn rất ít. Học được dăm ba chữ, lấy ra để chúc anh:

Bát thập như đại phúc
Anh cười:
- Phúc đâu không thấy chớ thấy bây giờ đi làm khổ người khác nhiều quá!
Anh phân trần: hồi đó bà con đã giúp đỡ mình rất nhiều khi mình thi hành nhiệm vụ của mình. Tôi nhớ lại và mang ơn rất nhiều những người đã ra tay giúp đỡ tôi nhất là khi mới ra làm cha phó. Ngoài sự hướng dẫn dạy dỗ của các cha sở, bà con giáo dân đã ủng hộ rất nhiều, luôn luôn là chỗ tựa của tôi. Nhớ lại, nhiều khi mình cũng thấy thiệt là hạnh phúc. Tôi không có một chút hối tiếc nào về cuộc sống do Chúa dẫn đi, nhất là Đức Mẹ.

Anh thố lộ:
- Giờ không còn lo họ đạo, chỉ còn lo cho mình, vậy chớ cũng còn lo ..
- Lo gì nữa?
- Anh không nhớ ông bà mình nói: “Già sinh tật, đất sinh cỏ”
- Giờ già rồi mà còn tật gì nữa?
- Khó tánh, già trở nên khó chịu, việc gì ai khác làm cũng không vừa ý, mà khi mình làm thì … không biết có ai khác vừa ý không? Cây cổ thụ có thể sống đến cả ngàn năm thì người ta quý bởi đặc tính của gỗ, người “cổ thụ” thì giỏi lắm cũng chỉ khoảng 100 năm nhưng theo thói đời đó là những “người cổ lổ xỉ” lại bị chê là xưa, là lú lẩn, mà nếu thêm tật khó tánh thì càng dễ bị ghét nữa!

Anh tâm sự:
- Tôi sợ về già có ngày lẫn, nói bậy nói bạ! Nhớ sai thì bây giờ, tôi bị nhiều rồi, nhiều khi muốn nhớ một chuyện mà nhớ hoài không ra. Vậy chớ có nhiều chuyện mỗi lần nhớ tới là nhớ rành rọt từng chi tiết.
Anh em tụ tập lại nói chuyện xưa. Không phải là buổi họp để tố các thầy cũ, nhưng chính là buổi họp mặt để tưởng nhớ các thầy cũ, là các “cha giáo” ngày xưa. Các vị này không làm sao mà còn lại được, bởi nếu mà còn, phần đông các cha cũng sẽ trên 100 tuổi!
- Mấy anh còn nhớ cha Quyến không? Nhớ hồi xưa, lúc mình học, tôi thấy cha Quyến cũng đã già rồi.
Rồi anh cười, vô đề:
- Tôi nhớ hồi đó học tiếng latinh với cha Quyến.
Chuyện hồi đó là trong giờ học tiếng latinh, hôm đó học kinh “Lạy Cha”, tới đoạn đó, cha đọc:
- sed libera nos a malo
để anh em dịch. Một anh nhanh nhẩu đưa tay, lên tiếng:
- xách va li đi ra xích lô
Cha nhướn mắt lên, để căp kiếng chảy xệ trên sóng mũi rồi khen:
- Giỏi! Đứa nào đó con?
Nghe khen mà không ai dám lên tiếng để nhận! Hai ba năm sau gì đó, cha chết được quàng trong phòng khách các cha ở Chủng Viện. Anh em chủng sinh thay phiên nhau, đứng vây quanh để đọc kinh cho cha. Anh Hiệp nói nhỏ với anh em:
- Không biết cha có nhớ tui không?
Ra ngoài, anh nói với anh em:
- Tôi có nói nhỏ với cha: Đừng giận con nữa nghe cha!
Giận gì nữa mà giận! Trước đây, cha đã không nghe rõ nên không giận, không rầy, thì bây giờ có còn nghe được nữa đâu mà giận, kể như cha bỏ qua hết. Quả cha đã là một cậy cổ thụ thời đó trong hàng ngũ các linh mục địa phận Sài Gòn. Giờ cha nằm xuống: một đời linh mục, một đời người!

Nghe vậy, anh quay qua chuyện của anh:
- Sắp tới đây là tới phiên tôi.
Anh em góp lời:
- Rồi sau anh cũng sẽ tới phiên của tụi tôi. Mà cũng chưa chắc gì ai đi trước ai.
Anh nói như kết luận:
- Thôi thì mình cũng cứ rán nhớ cầu nguyện cho nhau. Xin anh em đặc biệt cầu nguyện cho tôi. Một đời rồi sẽ kết thúc, cầu xin là nó được kết thúc trong ơn nghĩa Chúa!