Một mẹ trăm con

Bài hát “Một mẹ trăm con” của Phạm Duy (?) có câu:

         “Xưa khi xưa … mẹ đẻ ra … trăm cái trứng
         Sinh lũ con,… trăm đứa con,… cùng một dòng”

nhắc lại sự tích ngàn xưa dân ta tin ở truyền thuyết về nguồn gốc của mình: bà Âu Cơ sinh 100 cái trứng, nở ra 100 con, rồi 50 con theo cha lên núi bởi cha thuộc giống tiên, còn 50 con theo mẹ xuống biển bởi mẹ thuộc giống rồng. Mà rồi dù có sống theo cha hay theo mẹ, dù có sống trên núi hay dưới biển, “trăm đứa con, cũng là cùng một dòng…”

Sau 1975, mấy người công an, sau khi xem “ní nịch” của một số người, đã bô bô:

- Cái bà lày ấy mà nắm con đấy nhỉ!

Rồi xúm nhau cười. Họ cười cái gì, có Trời mà biết được. Nhưng cái điều mà họ nói: đúng! Nay xin kể câu chuyện của một “bà mẹ trăm con”…

***

Hồi đó, những người đi lên miệt Thủ Đức mà có để ý thì thấy. Đi từ Sài Gòn lên, trước khi vào tới chợ còn cách khoảng 1 cây số, trước khi qua cái cầu nhỏ, bên tay phải, người ta thấy tấm bảng “Viện Mồ Côi Thủ Đức, cơ sở Cây Dương” vì xung quanh đó có nhiều cây dương. Vừa qua khỏi chợ, bên tay trái là nhà thờ Thủ Đức, bên tay phải người ta thấy tấm bảng “Viện Mồ Côi…”. Đi trở lại, qua khỏi chợ Thủ Đức, trên đường đi về Dĩ An, phía bên tay phải có con đường “hẻm” khá rộng, đi vào khu vực của một cái coi như là làng cô nhi. Đây là khu vực của các em mồ côi xưa còn nhỏ, nay đã trưởng thành có thể sống tự lập. (Khu vực này nó có tên gọi, nhưng theo ngày tháng tôi đã quên đi!)

Trụ sở “chánh” trước chợ Thủ Đức là “văn phòng”, là nơi tiếp nhận trẻ mồ côi, là nơi nuôi dưỡng các trẻ mồ côi, là nơi các em khi lớn lên được dạy học chữ và học đạo. Đến đây là những em do chính mẹ em ẳm tới để rồi mẹ đã nức nở rời bước, để em ở lại với “những người mẹ mới”. Đến đây là những em không còn cha, không còn mẹ, được người đời đưa tới đâu đó rồi được chuyển tới đây. Đến đây là những em bị vất bỏ ở lề đường, hay đâu đó được người có lòng cứu vớt, ẳm tới cứu các em khỏi chết đói lạnh ngoài đường. Đến đây là những em không còn cha, cũng không còn mẹ, nhưng còn có thân nhân như ông bà nội, ngoại cô dì chú bác nhưng vì họ hàng nghèo quá, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc lấy gì mà đùm bọc các em nên các em được gởi tới đây để được gọi là “em bé mồ côi”, để các em được no lòng với miếng cơm “từ thiện”. Dì đón nhận.

Hồi xưa đó, khi còn trẻ, dì làm việc tại đây. Dì đón nhận các trẻ mới đến. Dì làm giấy tờ. Dì phụ dạy học. Dì săn sóc các trẻ mồ côi. Dì ẳm bồng, cho bú sữa, tắm rửa, thay quần áo cho mấy em bé thiếu hẳn mọi điều: không cha không mẹ, không họ không hàng, không có tình thương. Dì đã làm công việc của một người mẹ. Có những em được đem đến với đầy đủ giấy tờ, có giấy khai sanh đàng hoàng. Có những em hoàn toàn “vô thừa nhận”, không có giấy tờ, dì phải làm cho các em tờ giấy khai sanh để rồi lớn lên, em có thể làm người công dân có đầy đủ chứng từ. Mấy ai dám nhận! Dì “ôm hết.” Con trai thì là Trương Văn …, con gái thì là Trương Thị …, và mẹ của hằng trăm đứa con đó là TRƯƠNG THỊ HAI. Trên các giấy khai sanh ghi đều như nhau: cha: vô danh; mẹ: Trương Thị Hai. Bởi vậy, dì có hàng trăm đứa con!

Bước vào cỗng trụ sở này, người ta thấy ngay một tượng Đức Mẹ mở rộng 2 tay, đứng như vẫy chào người mới đến, một Đức Mẹ “từ bi” đang đứng chờ để đón nhận, để phù hộ những “người khốn khổ”. Bước vào cỗng trụ sở này, người ta gặp ngay một dì phước, dáng người nhỏ thó, miệng cười tươi chào đón người mới đến, rồi dì đưa 2 tay ra ẳm đứa bé bất hạnh. Có khi 2 anh hay chị em đến một lúc, dì đưa tay nắm đứa đã biết đi, một tay dì ẳm đứa còn phải được ẳm bồng trên tay. Người ta đã thấy dì ẳm các em bé và cho “bú bình”, ru ngủ như một người mẹ, người mẹ “không chồng nhưng có trăm con”.

Dì lo lắng cho các em có đủ cơm áo, ăn học. Bậc Tiểu học, các em học tại đây. Em nào học được, dì cho học lên trung học, ở các trường công, còn đại học thì dì không dám nghĩ tới … Dì mong chờ những người khách quí.

Đến đây không phải chỉ là những người đem trẻ mồ côi đến, thỉnh thoảng dì vui mừng đón tiếp những người có lòng nhân, những người thuộc các cơ quan từ thiện quốc gia và quốc tế. Theo như dì kể: bà N. ở Sài Gòn cứ hai hay ba tháng bà đến một lần, mỗi lần đến bà chở một xe bánh kẹo, và cho dì ít tiền. Lâu mà không thấy bà, dì cũng “nhớ”! Có mấy bà ở gần đâu đây, cứ tới hoài, mỗi lần tới là đem theo vài kí lô bánh kẹo. Còn khi các cơ quan từ thiện tới thì dì được nhiều hơn: sửa, gạo, thuốc men, vải để may quần áo, và tiền, và có lúc … giấy ban khen. Hỏi chơi dì: mỗi lần như vậy, dì mừng không? Dì trả lời: dì mừng lắm chớ con, thiệt cám ơn Đức Mẹ hết sức…

***

Cơ sở ngày càng phát triển, số trẻ em mồ côi ngày càng đông hơn. Cơ sở “Cây Dương” là nơi được xây dựng để gây quỹ, tạo ra tiền. Ở đó, công việc chánh là đúc gạch để bán. Một xưởng mộc nhỏ cũng được thiếp lập tại đây. Nhân công là một vài người rành nghề, làm để hướng dẫn cho lực lượng thợ chánh là đám con của dì, lớn lên tụi nó có một công ăn việc làm. Khu đất khá rộng rãi để các xe cam-nhông có thể ra vào chuyên chở gạch hay bàn ghế. Vừa vào cỗng của cơ sở, người ta thấy ngay một tượng Đức Mẹ cao khoảng một thước, đứng trên một trụ xi-măng, được đặt ở ngay chính giữa sân. Dì cầu xin cho được mua bán thuận lợi, không phải để làm giàu nhưng để có phương tiện lo cho các em đủ cơm ăn, áo mặc.

Còn cái làng cô nhi, không để ý để biết được nó có tên là gì nên tôi cứ gọi “bừa” như vậy. Đó là một khu khá rộng, có nhiều ngôi nhà biệt lập mà chủ của những ngôi nhà đó là những em mồ côi nay đã trưởng thành. Dì muốn gom con cái sống xung quanh dì. Vừa bước vào khu, người ta thấy ngay một tượng Đức Mẹ được đặt trên một trụ xi-măng vững chắc, để Đức Mẹ ngự trị giữa đám con của dì. Đâu phải vậy thôi, con của dì thì phải bắt chước dì, phải biết cầu nguyện cùng Đức Mẹ mỗi ngày, cho nên trong mỗi nhà ở trong khu vực này đều có tượng Đức Mẹ ở trong nhà, do dì đem tới cho.

Dì còn phải lo cưới gã cho các em trưởng thành. Ai bên ngoài mà ngắm nghé mấy đứa con gái của dì hay con trai của dì có thương đâu, dì đứng ra làm suôi. Bằng không, dì thấy đứa nào hợp với đứa nào, dì đứng ra “làm mai”, chủ hôn bên đàng trai là dì mà bên đàng gái thì cũng là dì. Cưới hỏi xong, dì lo luôn nơi ăn chốn ở của gia đình mới. Dì phụ giúp lo cho “tụi nó” có một cái nhà, trong khu vực nói trên. Quà cưới dì cho mỗi gia đình mới là một tượng Đức Mẹ, bởi dì đâu có gì hơn, chỉ có một quà tặng tinh thần quí giá đó, cọng với những kinh dì cầu cho hai đứa.

***

Những ngày cuối năm, các em được trở về vui Tết với gia đình. Sáng sớm, sau lễ sáng, sau khi cho các em ăn sáng xong, dì ra đứng ngày cỗng ra vào để khi mỗi em ra cửa, dì móc trong túi ra cho mỗi đứa 100 đồng để gọi là lì xì Tết. Dì tay móc, miệng cười chúc Tết các em. Nhưng mà có năm đó, cả tuần rồi, dì lo ngồi tính: mỗi đứa 100 đồng để có chút ít cho em đem về nhà ăn Tết, tính ra như vậy thì … Dì lo hết sức. Dì lần hết chuỗi này đến chuỗi khác, cầu xin cùng Đức Mẹ. Mặt dì xịu xuống, buồn hiu… Nhưng thằng bạn tôi, “con của dì”, là giáo sư Trung Học, Tết về có được chút ít tiền “giờ phụ”, nó đưa cho dì một bao thơ. Dì hỏi: Bao nhiêu con? Dạ năm ngàn. Mặt mày dì trở nên tươi rói. Dì có được đủ tiền dì đang mơ ước. Đám nhỏ còn có họ hàng đi hết rồi, dì ngồi nghỉ mệt một chút là phải lo “chạy” liền, lo Tết cho đám con không họ không hàng ở lại ăn Tết với dì.

Dì cũng đã trải qua cảnh “tre già khóc măng non”. Không phải một đôi lần mà đã nhiều lần rồi: được tin một đứa tử trận, xác còn đang được quàng tại “nghĩa trang quân đội” ở Gò Vấp, dì tất tả lo đi thăm “con”, để nhìn cho được mặt nó một lần cuối… Rồi ngày chôn cất tức nhiên phải có dì. Năm đó, anh tài xế lái xe cho viện mồ côi đau gan qua đời. Đến thăm con khi đã xong công việc và lúc vắng khách, người ta thấy dì ngồi dựa vào lưng ghế, yên lặng nhìn quan tài “đứa con”. Dì đã không khóc. Dì không phải là một con người chai đá nhưng như “nước mắt đã cạn dòng”.

Rồi thì đến lượt dì, dì từ giả “đám trăm con” để vĩnh viễn ra đi như mọi người. Dì đã ra đi thật bình an. Biết bao nhiêu vành khăn trắng đã để tang cho dì. Đám để tang cho dì có vai con, có vai cháu nội ngoại và có cả vai chắt nữa. Đi theo sau quan tài của dì, người ta thấy một dãi màu trắng xóa. Nhiều người đã khóc và thương tiếc kêu: “Má ơi!”…

***

Cuộc đời của dì thật là một tấm gương của việc noi theo gương Mẹ lành Maria.

Người ta thấy qua dì hình ảnh của một “Đức Mẹ từ bi” khi dì giang tay đón nhận các trẻ mồ côi.

Đông đảo quá dì đâu có lo cho xuể, nhưng hễ thấy có đứa nào buồn, khóc, dì thường hay ôm ấp vỗ về các em, tạo cho các em một chút tình thương gia đình, tình thương mẹ hiền. Đó là hình ảnh của “Đức Mẹ an ủi kẻ âu lo”.

Thằng bạn tôi nó hay khoe với tôi: xâu chuỗi nó đang dùng là của má Hai cho nó. Nó nói, mỗi lần gặp dì, dì hay “tra khảo”: đi lễ chưa con, đi xưng tội mùa Phục Sinh chưa, đi xưng tội lo lễ Sinh Nhật chưa con, nhớ ăn chay kiêng thịt trong mùa chay nghe con... Với những em còn nhỏ, còn sống trong viện mồ côi thì khỏi nói: có kỷ luật của viện, kinh kệ lễ lạc hằng ngày. Với những “đứa” đã ra đời, mỗi lần gặp dì là dì hay nhắc nhở việc đạo hạnh. Người ta thấy qua đó hình ảnh của “Đức Mẹ là đấng chỉ bảo đàng lành”.

Giờ đã qua rồi, dì đã nằm xuống. Việc dì đã làm được cho xã hội, cho các em mồ côi quả thật là vĩ đại. Đó là một người giàu lòng từ tâm, nhưng tôi còn thấy nơi dì hình ảnh của một người luôn luôn tin tưởng và nương tựa vào Mẹ hiền Maria, để noi gương Đức Mẹ.

Micae Nguyễn Ngọc Sáng
(Viết lời kể của Trương Văn Đây)