Một mùa Giáng Sinh

- Neo cao coi chừng té đấy!
- Ai vậy?
- Hai Cần đây!

***

Thắm thoát mà đã 7 năm rồi, từ sau ngày lịch sử nước nhà bước qua bước ngoặc lớn. Mọi chuyện đã dần dần trở lại gần như bình thường, vì làm sao mà bình thường được khi mà bao nhiêu điều xem là bình thường cũ đã có nhiều nét khác xưa, hay không còn được như xưa. Sinh hoạt nào cũng gần như là đều được sự “giúp đỡ” của các vị cán bộ ở phường, đặc biệt là những cán bộ công an. Lễ lạc gì ở nhà thờ cũng đều có mặt các anh, sau khi đã được phép. Các cán bộ công an quan sát, xem xét mọi việc trong ngoài trước khi cho phép cử hành.

Giấy phép là một thủ tục hành chánh không thể không có được. Nó đã được sinh ra và tồn tại từ ngàn xưa. Khổ nỗi khi nhà thờ cần xin một giấy phép gì thì y như rằng là các cha lại sai tôi đi. Mỗi lần cầm tờ đơn xin phép lên văn phòng ban công an phường, tôi cứ nghĩ như là đi ra “pháp trường.”

Tới văn phòng ban công an phường, như mọi người, tôi ngồi chờ. Có ghế ngồi, đó là một điều may mắn. Không có ghế, ra đứng trước cửa chờ. Tờ đơn đã được để trên bàn thơ ký, theo thứ tự dưới trước trên sau. Cô (hay anh) thơ ký cứ thỉnh thoảng đứng lên đi vô bên trong, rồi trở ra, đọc báo, rồi xách tờ báo đến các bàn giấy khác, bàn luận. Đến khoảng 9 giờ, cô thơ ký mới nhóm người tới, rờ vào các tờ đơn. Cô đọc cẩn thận. Cô kêu người có tên trong đơn. Cô giải quyết. Chuyện gì cô không giải quyết, cô chỉ tay biểu lên lầu gặp trưởng đồn. Mỗi lần như vậy, cũng chẳng có bao lâu. Đến công an phường khoảng hơn 7 giờ thì đến độ 10 giờ là xong việc. Ra về, lòng hớn hở!

Bảy năm sau ngày thay đổi, ông trưởng đồn công an đổi đi. Ông khác về thay. Để nắm tình hình ở địa phương mới, ông đi xem xét khắp phường. Đâu ông cũng xem qua, và nhà thờ dĩ nhiên ông cũng có tới. Và như đã thành thông lệ, khi nhà thờ cần có giấy phép là tôi được sai tôi đi làm công tác. Sau khi ngồi chờ ở bên dưới, cô công an thơ ký kêu tên và bảo: chú đi lên lầu gặp trưởng ban. Tim tôi bắt đầu đập mạnh. Lên đến nơi, thấy mặt ông ta, tim lại càng đập mạnh thêm. Người đâu mà mặt lạnh như tiền. Nhìn ông ta ngồi mà tôi cứ tưởng như là một pho tượng đồng ai đem đặt nơi bàn giấy. Ông ngồi kiểu nước lụt: một bàn chân rút lên để trên mặt ghế, đầu gối cao ngang cằm. Tôi chào và trình cho ông ta tờ đơn xin phép của nhà thờ. Tôi quay tờ giấy cho thuận chiều để ông ta dễ đọc. Như để xem xét, ông ta xoay xoay tờ giấy, rồi mới bắt đầu đọc, thỉnh thoảng ngẩng mặt lên liếc mắt nhìn tôi. Ối giời ơi! Cặp mặt thật sắc, “nom” thấy phát khiếp.

Rồi lần lần, chúng tôi cũng quen đi với bộ mặt lạnh như tiền của ông trưởng đồn. Ông cũng quen đi với dân cư trong vùng, với địa bàn hoạt động. Gần như là mỗi lần có dịp đi băng ngang khu vực nhà thờ, hễ thấy phòng cha phó có mở cửa là ông ta ghé vào:

- Anh ba, khoẻ không? Đi ngang đây, ghé vào xin anh tí cà phê.
- Dạ mời ông!

Sau 75, ngoài những đổi thay, không biết để tránh cái gì, người ta đổi ra gọi cha sở là anh hai, cha phó nhất là anh ba, cha phó nhì là anh tư. Trong khi cha phó lo pha cà phê, Hai Cần và anh công an trẻ đi theo, ngồi hút thuốc. Xong chầu cà phê là ông ta, miệng còn ngậm điếu thuốc, cùng với anh công an chào từ giả, ra đi nơi khác. Ông bà nói quả không sai: “miếng trầu là đầu câu chuyện”. Ở đây, qua ly cà phê điếu thuốc, mối quan hệ với các vị cán bộ, và đặc biệt riêng với ông Hai Cần ngày càng thêm thân thiện. Có thân thiện, có dễ dãi!

***

Giữa tháng mười một hằng năm, theo thông lệ, nhà thờ lo trang hoàng chuẩn bị để mừng lễ Giáng Sinh. Máng cỏ là cái gì thiêng liêng không thể thiếu được. Hai ba năm đầu sau khúc quanh của lịch sử, nhà thờ không được phép làm máng cỏ. Rồi năm đó, khi mà được phép và có sự khuyến khích của Ủy Ban Đoàn Kết Tôn Giáo, nhà thờ được làm công việc truyền thống đã có không biết từ bao lâu. Danh sách anh em tham gia làm máng cỏ đã được công an phường duyệt y. Mỗi lần anh em tụ họp lại trong nhà thờ để làm máng cỏ là có ít nhất là một anh công an với một hay hai anh em bộ đội, có cầm súng hẵn hòi, ngồi bật ngửa trên các băng ghế trong nhà thờ để theo dõi việc làm.

Năm đó, sau khi ông Hai Cần về làm trưởng ban công an phường, lễ Giáng Sinh đã đánh dấu một việc lạ. Bà con ghi nhớ. Các cha ngỡ ngàng. Khoảng giữa tháng 11, Hai Cần đi với một anh công an trẻ đến nhà thờ. Sau khi thưởng thức xong ly cà phê, đang phì phà điếu thuốc, Hai Cần rút từ trong cặp da cán bộ ra một tờ giấy, đưa cho cha phó: giấy cho phép nhà thờ làm máng cỏ và cử hành thánh lễ nửa đêm!

“Tại sao? Chuyện lạ!” Khoẻ! Khỏi phải đi xin giấy phép, khỏi phải đợi chờ! Khỏi phải lên phường công an để phải nhìn những bộ mặt lạnh như tiền của mấy vị công an. Vẫn biết đây là lệnh chung của ủy ban tôn giáo, của chính quyền, nhưng làm gì làm cũng phải qua thủ tục xin phép chớ. Nhưng mà thôi, có giấy phép rồi: làm. Anh em lo khiêng mấy chân ngựa, nối lại với nhau để rồi sẽ đặt lên trên mấy tấm ván để làm cái sàn, rồi trên đó máng cỏ sẽ được trang hoàng.

Anh em đã quá cháo chan công việc, tuy là một năm một lần nhưng cũng chỉ với mấy bộ mặt này nên ai cũng quen với công việc. Khiêng ván khiêng cây, nặng gần chết, chợt nghe tiếng nói, thấy phát sùng:

- Có thế mà cũng nàm cong xương sống cóng xương sườn!

Rồi thêm giọng cười hô hố, có giận mấy anh em cũng không dám nói: Hai Cần!

Sạp đã làm xong tới phần “bóp” máng cỏ. Để làm trên chóp hang đá là phải dùng thang, phải leo lên cao mới có thể đụng tới trên chóp thì bỗng nghe:

- Neo cao coi chừng té đấy!
- Ai đó?
- Hai Cần đây!

“Tiên sư! Ngày nào nó cũng tới để kiểm soát”.

- Để tôi neo nên tôi nàm cho mà xem!

Anh ta xổ áo ra, anh ta leo lên thang. Anh ta làm có vẻ thiện nghệ. Hơi xa xa, anh ta nhoài mình ra, chân ngoéo vào thang, người ngả tới một chút, hai tay vươn dài ra. Thấy vậy, có người lên tiếng:

- Neo cao coi chừng té đấy!
- Té thế lào được!

Biểu diễn xong, anh ta leo xuống, nói:

- Có thế mà nàm coi cũng không được!

“Tiên sư anh! Anh còn trẻ, còn khoẻ, chớ tài ba gì! Đó là chuyện tay chân.”

Giai đoạn cuối của công việc là tô điểm lại tấm “phông”, lo chạy đèn, dậm thêm tuyết trên hang đá, thêm mấy chậu bông, chậu kiểng thì anh ta tới. Mà hễ anh ta tới thì thế nào cũng có “xía” vô! Ngắm nghía một hồi là anh ta nói:

- Phần trên cao của tấm phông mình phải sơn đậm thêm đấy chứ!
- Chi vậy?
- Phần chính diện là hang đá sáng lên như thế lày thì đúng rồi, còn phần xa xa, trời đêm thì ló phải tối om om chứ!

“Tiên sư anh! Anh làm công an thì anh lo theo dõi người này người nọ chớ còn ở đây thì anh biết cái khỉ gì!” Vậy mà cha phó lại nghe anh!

Thánh lễ nửa đêm xong. Một bữa tiệc nhỏ được các cha đãi anh em làm công tác. Bên trong nhà cha cũng có tiệc cho qưới chức và quan khách nhưng anh ta ra ngồi với anh em, trên thềm nhà thờ, bên dưới lầu chuông. Có vẻ thích thú, anh ta vừa nhai vừa nhìn quanh và nói:

- Trời mát mà nhậu thế lày thì tuyệt, mấy anh nhỉ?

Tiếng nhạc xập xình, tiếng cười nói ồn ào ở ngôi nhà ngang bên hông nhà thờ khiến anh quay mặt về hướng đó:

- Tiên sư cái bọn lày, cứ mỗi nần có nễ nà bọn ló nàm dầm dầm. Bọn lày ló có đạo đấy nhá, mà có thấy đi nể nạc gì đâu!
- Sao anh biết họ có đạo?
- Sao không biết! Công an mà nị! Bọn tôi lắm hết ní nịch mọi người trong phường.

Như để dằn cơn nóng giận, anh nốc cạn một ly rồi tiếp:

- Cái bọn lày ấy, ló chỉ giữ đạo nấy nệ. Ló chỉ nợi dụng nể nạc để mà ăn nhậu. Chẳng bao giờ thấy đến nhà thờ, mà hễ chết nà khênh tới nhà thờ!...

Như thấy mình nói hay, anh cười khà khà rồi làm cạn thêm một ly như để khen thưởng mình…

***

Sau lễ Giáng Sinh rồi tết dương lịch, anh còn trẻ nhưng đột nhiên có tin anh về hưu. Trưởng ban mới đổi đến, tình thế và cả tình nghĩa không còn như khi anh còn ở đây. Tuy nhiên, sinh hoạt tôn giáo cũng đã cởi mở nên xem như bình thường. Dọn dẹp lo lễ Giáng Sinh, anh em lại nhắc tới anh:

- Neo cao coi chừng té đấy!

Nhắc lại để mà cười nhưng mà cũng có ý thắc mắc: Trèo cao giỏi là vì anh ta còn trẻ, khoẻ, nhưng sao mà anh lại cũng có được những ý kiến về việc làm máng cỏ? Liền năm đó, ngày lễ Giáng Sinh, sau thánh lễ sớm ban ngày, cha phó rủ anh em đi chơi xa. Đi mà không biết đi đâu, anh em hỏi:

- Mình đi đây đây cha?
- Đi tới nơi rồi biết!
Đoàn đi về vùng vườn tược êm đềm Lái Thiêu. Đến đầu một ngỏ hẻm, đoàn xe rẻ vào. Đi vừa được một đoạn ngắn thì ai nấy nghe tiếng kêu to:

- Ối giời ơi!

Thì ra cha phó dẫn anh em đi tới nhà Hai Cần. Anh em cũng không giấu được vẻ ngạc nhiên, kêu lên:

- Ối giời ơi!

Anh vội vàng quay đầu xe Honda lại để dẫn đường. Đến một khu vườn mà ngay cỗng vào có một cái quán tạp hóa nhỏ, anh em vào. Đây là giang sơn của Hai Cần. Rồi trước khi mời vào nhà, anh mời cha phó và anh em ra xem quán tạp hoá, đi vòng quanh xem miếng vườn của anh. Trở vào nhà, chào hỏi mọi người xong, anh em có được câu trả lời về việc tại sao mà Hai Cần biết làm máng cỏ. Một máng cỏ đẹp chiếm một khoảng lớn trong nhà. Anh em đã phải buột miệng:

- Ồ! Máng cỏ đẹp quá!
- Hai Cần nàm đấy!

Đó là câu trả lời cho việc tại sao Hai Cần có ý kiến về việc làm máng cỏ trước đây. Nhìn thấy anh em có đem theo một cái bọc to, anh lên tiếng:

- Con phải giở nại nghề, khám xét coi cái gì đây!

Anh lên tiếng trách:

- Ối giời ơi! Đi nên đây mà cha còn đem theo các thứ lày! Con đã no niệu đủ các thứ!

Rồi bữa tiệc mừng Chúa ra đời được mở ra. Mấy tấm đệm lớn trải ra dưới đất. Thức ăn được dọn ra, quá đầy đủ. Má anh ta, hai đứa em và hai đứa con có vẻ vui mừng lắm, hôm nay có khách quí từ Sài Gòn tới mà. Anh thì cứ mời liên miệng. Tính ra cũng đã gần hai năm sau khi anh rời chức vụ:

- Con thì cứ nhớ tới cha mí anh em.

Cứ mỗi câu nói xong thì anh ta lại thấm giọng với một ly:

- “Con thấy không thể kéo dài mãi tình trạng đó được nữa. Sau khi mẹ và hai đứa em con vào đây rồi, vét tất cả tài sản mẹ con có được cọng với mớ tiền dành dụm của hai vợ chồng trong bấy lâu nay, con đã tậu miếng đất này. Con quyết định là phải tìm lại cuộc sống cho đàng hoàng, không thể sống dở dở ương ương, có Chúa mà chẳng dám thờ! Thật là rõ khổ! Và thế là cả gia đình con có thể sống ngon lành, cả đạo lẫn đời. Rời chức vụ rồi, trả lại cho nhà nước tất cả, con trở lại làm dân thường. Con đã vào họ đạo ở đây.”

Anh khoái chí cười:

- Người ta còn mời con làm biện nữa đấy chứ!

Giờ thì đâu còn có gì mà phải sợ, trong cơn ấm áp của men nồng, anh em tấn công:

- Làm gì mà hồi đó anh làm cái mặt thấy phát sợ!

Anh cười hề hề, không trả lời, lại có vẻ thích chí, nốc thêm một ly.

- Còn hồi mà tụi tui làm máng cỏ, làm gì mà anh cứ tới gần như mỗi ngày?
- “Chẳng phải là phận sự gì của tôi, nhưng tôi muốn đến để bọn nó không có làm gì khó dễ cho nhà thờ, hơn nữa ..”

Anh cười híp mắt:

- Để xem anh em có biết nàm máng cỏ không!
- Anh còn nhớ mấy người ở bên hông nhà thờ không? Anh nói là mấy người đó giữ đạo lấy lệ, vậy mà trong nhà họ cũng có bàn thờ, …

Anh cướp lời ngay:

- Đó nà cái bọn giữ đạo bề ngoài …

Tụi tôi cũng chận lời anh:

- Nhưng mà họ còn hơn anh…

Anh không để cho tụi tôi nói:

- Hơn thế lào được! Các anh không biết được chứ tôi lói thật đấy nhé, mỗi nần mà tôi đi ngang lúi Đức Mẹ, tôi niếc nhìn chung quanh dzồi tôi khẻ gật đầu chào Đức Mẹ, trước khi bước vào nhà thờ, tôi nom bàn thờ kế nà tôi chớp mắt chào Chúa trên bàn thờ.

Anh chậm giọng lại như để xác định vấn đề:

- Do tình thế bắt buộc, chứ tôi thì tôi nuôn nuôn giữ đạo ở trong nòng…

Tiệc vui rồi cũng tan. Xế chiều, anh em từ giả ra về. Tính ra đến năm nay, 2008, đã là 23 năm rồi từ sau ngày tôi chén thù chén tạc lần cuối với Hai Cần dịp lễ Giáng Sinh năm đó, 1985. Làm sao quên được, quả thật đó là một tấm lòng!