Mùa Trở Lại

Mùa chay: mùa trở lại

Năm nay 2009, mùa chay bắt đầu từ ngày thứ tư 25 tháng 2, thứ tư Lễ Tro. Mùa chay là mùa trở lại, mọi người được kêu gọi lo sám hối ăn năn, quay về với Thiên Chúa. Đó là điều mà ta thường nghe các cha giảng dạy và xin dành lại việc này cho các cha.

Năm nay lại là “năm thánh Phaolô”. Thánh Phaolô tông đồ quả là một tấm gương vĩ đại của việc trở lại, cho người trở lại, người đã trở lại, người sắp trở lại. Từ sau ngày “ngả ngựa” trên đường Damascus cho đến ngày bị hành hình, cuộc đời của thánh nhân là tấm gương cho tất cả những người muốn tìm hiểu đạo Chúa, cho những người “làm việc tông đồ” làm công tác đem người trở lại đạo Chúa, qua cuộc sống của ngài và những bài ngài viết để lại.

Năm nào cũng vậy, ở giáo xứ tôi, vào những ngày này có lớp học cho mấy người tân tòng, chuẩn bị cho ngày rửa tội vào dịp lễ Phục Sinh. Sau Phúc Âm, cha giới thiệu những người tân tòng. Năm nay, giáo xứ tôi có tất cả 7 người tân tòng. Những anh chị em đó chỉ tham dự phần đầu của thánh lễ, đứng lên, đi theo một giáo lý viên ra khỏi nhà thờ, vào một phòng bên ngoài để học giáo lý. Cha kêu gọi tất cả cầu nguyện cho 7 người anh em đó.

Đó là những người anh em sắp trở lại đạo Chúa. Nhìn qua, mấy anh em đó là những người còn trẻ, nam có, nữ có. Lý do tại sao họ muốn trở lại đạo Chúa? Không cần biết, chỉ biết là họ đang trên đường tìm hiểu đạo Chúa, tìm biết Chúa. Đây quả là một cuộc thay đổi rất quan trọng trong cuộc đời những người anh em đó. Họ sẽ bước đi trên con đường mới của lòng tin, đầy bỡ ngỡ và biết đâu sẽ có ít nhiều khó khăn, ta nên cầu nguyện cho họ: những người trở lại.

Rồi theo truyền thống, như ở hầu hết các họ đạo, vào mùa chay thường có tổ chức cuộc cấm phòng mà còn được gọi là cuộc tĩnh tâm, tuần đại phúc, giáo xứ tôi cũng sẽ có cuộc cấm phòng mùa chay. Đây cũng là một cuộc trở lại, dành cho những người đã biết Chúa, đã giữ đạo Chúa nhưng vì những “tại bởi” của cuộc đời đã không thường xuyên tới lui nhà thờ, nay cũng cảm thấy mủi lòng khi nghe câu hát:

“Con nay trở về, trở về cùng Chúa, Chúa ơi!”

Đó là một dịp thu hút đông đảo bà con đến nhà thờ vào những ngày không phải là ngày Chúa nhật, không phải là ngày lễ buộc. Thông thường thì đi đến nghe những buổi giảng tĩnh tâm cũng là những bộ mặt quen thuộc, gặp nhau hằng tuần, nhưng thỉnh thoảng cũng có những người với chủ trương “xưng tội ba năm ít là một lần!” trở lại. Vì cuộc sống quá bon chen, lỡ quên sót việc đi nhà thờ, quên lần một, lần hai, riết rồi quên luôn, không ai nhắc nhở, và quả thật những người đó là những người trở lại, trở lại nhà thờ, trở về với Chúa…

Và năm nay, theo lịch trình, một cha “từ phương xa” sẽ đến giảng cấm phòng tại giáo xứ tôi, khiến tôi lại nhớ đến cuộc…

Cấm phòng mùa chay ở họ tôi, năm đó.

Năm đó quả thiệt là một năm mà bà con xứ tôi, khi nhớ lại quê nhà thường nhớ và nhắc tới. Các cha dòng cũng “từ xa đến” đã giảng, đã kể nhiều chuyện đời hay lắm, mà đám nhỏ tụi tôi không hiểu được nhiều nên khó mà có thể nhớ, có chăng là mấy người lớn tuổi, mấy vị ấy nghe, hiểu thì may ra còn nhớ được. Nhưng hồi đó mà nhỏ như tôi, bây giờ cũng đã bước qua tuổi 68 rồi thì mấy người lớn tuổi thời đó, bây giờ làm gì còn có ai đâu nữa để mà hỏi.

Thật ra không nhớ sao được khi mà các cha dòng Chúa Cứu Thế tới, sinh hoạt trong họ đạo đã hoàn toàn thay đổi trong suốt 3 tuần mà các cha lưu lại. Thường khi thì nhà thờ có lễ sáng 5 giờ. Trưa 12 giờ, chiều 7 giờ có đổ chuông “nhựt một”. Nhà thờ thì mở cửa suốt ngày, ai muốn vô nhà thờ “viếng Chúa” lúc nào thì vô, nhưng mà có được mấy ai. Chiều thứ bảy thì có làm việc Đức Mẹ. Sau khi các cha dòng Chúa Cứu Thế đến, do các cha phổ biến nên chiều thứ bảy có thêm “làm việc Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”, thì chiều thứ bảy có “làm việc Đức Mẹ”, rồi “làm việc Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”, xong rồi thì có chầu phép lành. Ngày Chúa nhật thì có lễ 5 giờ sáng, lễ 8 giờ sáng, phép lành chiều lúc 2 giờ. Kỳ dư thì khuôn viên nhà thờ vắng lặng không giống như trong ba tuần lễ các cha dòng có mặt, thiệt là nhộn nhịp, rần rần rộ rộ. Bên trong nhà thờ, xung quanh nhà thờ, trong nhà nhóm (nơi cha sở hội họp với qưới chức) luôn luôn có người. Quả thiệt, các cha dòng, năm đó, đã làm thay đổi hẳn bộ mặt, thay đổi hẳn sinh hoạt của họ đạo tôi. hững sinh hoạt đó đã lôi cuốn người ta đi đến nhà thờ.

Không nhớ sao được khi mà cuộc kiệu “vòng quanh tỉnh” đã lôi cuốn “toàn dân”, toàn dân xứ tôi. Người có đạo, người không có đạo đều tham gia. Người có đạo thì chia làm hai “phe”: một phe đi tới nhà thờ để cùng mọi người đi theo đoàn kiệu, một phe thì ở nhà lo chưng dọn bàn thờ Đức Mẹ đem ra trước nhà, hay trên đường mà đoàn kiệu sẽ đi qua. Những người ở trong vùng Xóm Cát mà đoàn kiệu không có đi qua thì tham gia hết vào đoàn kiệu, bởi vậy mà đoàn kiệu dài “không kể siết”...

Những người không có đạo cũng tham gia. Đàn ông thì ăn mặc chỉnh tề, mặc đồ Tây, “áo bỏ vô trong quần”, nghiêm trang đứng chào đoàn kiệu. Đàn bà thì mặc áo bà ba đàng hoàng, cũng có người mặc áo dài. Bà Năm Đồ là một người rất là sùng đạo Phật, bà cũng có dọn một bàn thờ trải khăn trắng, có nhang, có bông, có đèn, có chưng tượng… Phật Bà Quan Âm để “tham gia” cuộc kiệu. Thím Chung là chủ tiệm tạp hóa “chú Chung” khá đông khách. Thím là người Hoa, đâu có đạo gì, thím cũng làm một bàn thờ để ngay trên lề đường, trước cửa tiệm của thím. Trên bàn thờ, thím để một bức ảnh ông Quan Công mặt đỏ cầm đại đao, có Châu Xương Quan Bình hầu hai bên. Khi đoàn kiệu đi ngang, nhang đèn có sẵn, thím đốt khói bay mịt mờ, đứng vái lia vái lịa …

Không nhớ sao được khi mà các cha đi rồi, kết quả của việc làm của các cha còn để lại trong lòng người những suy tư và cảm mến. Các cha dòng đến họ đạo tôi lần đó đã để lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng người. Việc làm của các cha, bà con xứ tôi nói theo một giọng điệu xưa là “cả thể”, nghĩa là vĩ đại. Cả thể không phải vì cuộc kiệu quá ư là long trọng, quá ư là vĩ đại với không biết bao nhiêu người tham dự, có thể nói là cả tỉnh, quá ư là lạ lùng vì chưa từng có tại xứ này mà có lẻ tại nhiều xứ khác nữa. Cả thể không phải vì nhà thờ luôn luôn có đông đảo người, vì những sinh hoạt lôi cuốn đám trẻ nhỏ tụi tôi và cả những người lớn tuổi. Trong một vài trò chơi, đám trẻ tụi tôi thì ở vòng trong, bà con lớn tuổi thì ở vòng ngoài, còn cục nhưn ở giữa là một cha. Vui lắm! Bởi vậy, các cha dòng về rồi thì ba tuần sau là tới lễ Phục Sinh, tôi nhớ bà con xứ tôi cứ tiếc:

- Phục Sinh mà có các cha dòng ở đây thì hay biết mấy!

- Đâu có được! Các cha dòng còn lo đi tùm lum hết, chỗ này chỗ nọ, cũng phải vài ba năm nữa, may ra cha sở mình mới rước được các cha về nữa!

Biết vậy! Cuộc vui nào rồi cũng qua đi, cảnh có tưng bừng mấy rồi cũng sẽ có lúc tắt lịm. Các cha đi, đưa tiễn có nhiều người khóc. Về đây, các cha dòng đã làm gì? Thì các cha giảng, các cha giải tội, các cha đi thăm viếng bà con. Bà con các cha ở đâu mà đi thăm viếng? Các cha đi thăm viếng hết các nhà, nhà có đạo cũng như hà không có đạo, các gia đình sẵn sàng để cho các cha vào nhà. Các cha rán đi thăm viếng tất cả, giàu cũng như nghèo, nhất là những gia đình “bê bối”, hỏi sao mà người ta không cảm mến.

Các cha đi rồi, đi lễ gặp nhau, bà con mới kiểm điểm lại những chuyện trong họ đạo: biết bao nhiêu “cảnh”, biết bao nhiêu người: nào là chuyện “một cảnh hai quê” của ông phán Vĩnh mà cha có tới, còn chờ “hạ hồi phân giải”, mấy cái đám làm biếng, chuyên môn “đi lễ nửa mùa” thì lúc rày thường hay đi vô dành chỗ sớm trong nhà thờ mà cái đám này thì đông, còn mấy người đi làm ruộng thì mới thiệt là khổ, mấy lúc rày, mới sau Tết, chưa có mưa nên ở “dưới này”, chớ còn mưa mà đổ xuống một cái thì kể như mấy bà con đó phải đi lên ruộng rồi ở luôn “trên đó” vài ba tháng thì còn nói gì mà lễ với lạc: từ ruộng trên miệt Châu Pha, đi bộ ba bốn chục cây số ngàn không dễ gì mà trở về hằng tuần để đi lễ được! Cha Yến có đi thăm viếng đặc biệt mấy người này trong khu Xóm Cát. Nhưng còn mấy trường hợp khác thì ai cũng nức nở khen, phục các cha dòng đã thành công trong việc đem người trở lại.

Mấy người được xem là “bất trị” rồi, tưởng như là không bao giờ trở lại nhà thờ nữa, nhưng họ đã quay trở lại nhà thờ, mà rồi sau đó còn giữ đạo sốt sắng nữa chớ! Như chú Tư Sang, ham bè ham bạn, bị bạn bè dụ dỗ sa vào đường cờ bạc, rồi thục kết ở tù. Ở tù về, chú xấu hổ, không muốn gặp mặt ai hết, xa lánh luôn nhà thờ. Nhưng chú là người hiền lành, con nhà đàng hoàng, chẳng qua là do “gần mực thì đen”, cha Lapointe khuyên nhủ chú dễ dàng. Vụ chú Tư Sang thì bà con lớn tuổi nói: “Nó hên vì mới ở tù về có mấy tháng thì gặp dịp cấm phòng, các cha lôi một cái là nó trở lại liền!”

Vụ ông bà phán Huệ cũng là một trường hợp. Ông phán hưu trí rồi, tối ngày ở nhà. Hai ông bà mập mạp. Bà không chịu đi nhà thờ, nói rằng giờ lớn tuổi, đi xa không nổi, vô nhà thờ ngồi lâu đau lưng quá, chịu không nổi. Bà than đau yếu:

- Giờ lớn tuổi rồi mà mập mạp, đi đâu mau mệt lắm. Vô nhà thờ cả tiếng đồng hồ về nhà mệt chịu hổng nổi!

Ông cũng than đau yếu theo. Nói là đau yếu vậy mà tối ngày ở nhà, bà chuyên môn ngồi lo “chờ tướng, kéo quân” suốt ngày không biết mệt. Sáng ngày bà ngủ tới tám, chín giờ sáng rồi hai ông bà mới lo đi chợ ăn hủ tiếu, uống cà phê rồi trở về tiếp tục lo “đậu chến” thì bà ngồi nổi. Hôm cha Lapointe tới, ông phán đang ngồi trước cửa nhà. Ông chào cha, mời cha vô nhà. Ông tiếp cha ở bàn ngoài phía trước, còn bà thì ở phía sau, đang lo “tiếp khách”. Cha hỏi thăm về bà. Một lát lâu sau, đợi mấy bà bạn lẻn cửa sau về hết, bà ra chào cha. Cha với hai ông bà nói chuyện với nhau, nói gì không biết mà cha và hai ông bà cười quá xá.

Lạ! Xưa nay, nhứt là bà, bà đâu có ưa gì mấy ông cha bà phước mà khi đưa cha Lapointe ra cửa, chính miệng bà mở lời mời cha hôm nào trở lại chơi! Có mời là cha có trở lại. Vài lần rồi cái tới phiên cha mời hai ông bà nay mai tới nhà thờ gặp cha chơi. Ai ngờ mà hai ông bà chịu đi. Chịu bước tới nhà thờ rồi thì dễ gì mà thoát khỏi tay các cha. Sau đó, hai ông bà chiều nào cũng đi nghe giảng cấm phòng, đâu cũng được hơn một tuần. Ngồi lâu nghe các cha giảng, không ai còn nghe bà than mỏi lưng nữa. Thật ra cũng dễ, bà phán đâu có phạm tội gì đâu nặng nề, chỉ có cái tội làm biếng và ham mê chút đỉnh.

Nhưng mà cái vụ ông Tư lò rèn trở lại đạo được mới thiệt là cả thể. Ông ta rõ ràng là một người đã bỏ đạo. Đang giữ đạo đàng hoàng không hề bê trễ việc nhà thờ nhà thánh, đang làm ăn tử tế với nghề thợ rèn, khi không tự nhiên cái ông làm thêm cái nghề “động trời động đất”: làm thầy pháp, làm bùa làm ngải! Làm nghề này thì đâu còn Chúa Bà gì nữa, kể như là ông bỏ đạo. Bỏ đạo rồi, ông ta làm toàn những việc nghịch lại đạo Chúa. Người ta nói để làm thầy pháp mà cho cao đệ, ông phải “thờ ma cúng quỷ”. Như vậy là ông đã quay đầu đi hẳn. Không ai dám tin là ông ta có thể trở lại được. Việc đem ông trở lại đạo được xem như là chuyện “đội đá vá trời.” Cha sở cũng đã vài lần đên thăm, khuyên lơn ông nhưng không có kết quả mà lại còn bị mắng chưởi, cho nên khi nghe tin ông trở lại, ai cũng mừng. Mừng thì mừng, mà thắc mắc thì thắc mắc. Không biết cha Lapointe đã nói gì với ông ta?

- Hỏi chi vậy?

- Hỏi để biết coi cha đã khuyên nhủ ông ta như thế nào, sau này có dịp mình bắt chước.

Một người tỏ ra sành đời, nói:

- Tôi đoán chắc là cha có bùa cao hơn