Ngày anh trở lại

Thằng Kính

Nhiều người biết anh lắm. Người ta biết tới anh là vì anh thường có mặt ở những nơi đông người đến. Trước hết, đó là nhà thờ. Anh là con chiên ngoan đạo. Ngày nào anh cũng đi lễ sáng, xong rồi mới lững thững đi ra chợ để “làm việc.” Chợ là nơi thứ hai anh đến và trụ lại hàng ngày, thông thường từ sau lễ ở nhà thờ cho tới 2, 3 giờ trưa. Anh làm nghề khuân vác. Người ta đem hàng ra chợ, anh chạy tới xin mối, khiêng hàng tới sạp hay chỗ ngồi của bạn hàng. Xong một mối, lượm tiền bỏ vô cái túi vải anh đeo ở thắt lưng. Đến khoảng hơn 9 giờ, bà ngoại anh đi ra, tìm anh để lấy bớt tiền, xong đi chợ.

Anh sống với bà ngoại anh, không có cha hay mẹ, anh mồ côi cha mẹ. Anh cũng không có anh em, nhưng anh có được tụi tôi. Tụi tôi là anh em chung xóm, chung họ đạo, chung trường, chung hoàn cảnh nghèo. Do vậy, người ta gọi anh là "thằng Kính". Nhưng không đơn sơ như vậy, tên anh còn có kèm theo một biệt hiệu.

Anh Kính

Mỗi ngày, khi chợ trống người, xong việc, anh đi về nhà, ăn cơm, xong đánh một giấc. Khoảng 5 giờ chiều, anh thả bộ lên nhà thờ. Sân nhà thờ là nơi thi đấu hàng ngày của 2 đội banh danh tiếng: đội mặc áo và đội ở trần. Áo được gom lại làm trụ gôn. Trận đấu không qui định thời gian, mà theo ánh mặt trời. Trời sụp tối, trận đấu tan, ra về. Anh Kính đi đầu, tụi tôi đi theo hai bên anh, bàn về trận đấu gây cấn vừa qua. Anh thường dẫn tụi tôi đi về bên phía hông nhà thờ có núi Đức Mẹ. Anh bắt tụi tôi dừng lại một chút để đọc một kinh Kính mừng, chào Đức Mẹ. Anh nói: bà ngoại anh dặn phải luôn nhớ cầu nguyện Đức Mẹ, cho nên mỗi lần đi làm về, anh hay ghé lại tại núi Đức Mẹ một chút, ngày nào cũng vậy. Rồi tối lại cơm nước xong, tụi tôi tụ tập lại tại nhà anh, trò chuyện tiếp.

Nhiều khi nhắc lại chuyện hồi còn nhỏ, tụi tôi đi học ở trường nhà thờ. Anh học cùng lớp với tụi tôi mặc dù anh lớn hơn tụi mấy tuổi, cao chòng ngòng. Học trò lớp nhì, lớp nhất thường được tuyển chọn làm học trò giúp lễ. Anh thích giúp lễ lắm, nhưng khổ nổi anh có tật cà lăm. “Kính cà lăm” là tên với biệt hiệu người ta thường gọi anh. Đi học giúp lễ chung với nhau nhưng lần nào khi dì phước kiểm lại, anh cũng không thưa được kinh một cách suông sẻ. Dì phước đóng vai trò cha. Tới phiên anh, dì đọc:

       - In nomine Patri, et Filio, et Spiritui Sancto.

Dì vừa mới đọc tới “… nomine …” là anh đã hả miệng ra trước, bập bập hàm dưới mấy cái rồi bật liền:

       - Amen

Được! Nhưng tiếp theo, dì đọc xong, anh cứ hả miệng hoài mà không thưa được. Dì đọc tiếp, tiếp, rồi như đã nóng máy, anh làm luôn một hơi:

       - Ad Deum qui benificat, ad juven tutem meam!

Trời ơi! Trễ rồi! Đâu có được! Anh rớt! Anh không được chọn làm học trò giúp lễ, nhưng thương anh, dì cho anh “hầu đèn”. Anh buồn! Anh tiếc nhưng anh cũng vui lòng chấp nhận vì anh có được một vai trò trong họ đạo. Rồi sau năm lớp nhất, thi rớt lại thêm nhà nghèo, anh nghỉ học, tìm được việc làm "không tiền không chữ" để phụ với ngoại anh khi đó cũng đã luống tuổi rồi.

Thân nhau như ruột thịt, ngày nào cũng gặp nhau, tụi tôi coi nhau như anh em. Ai kêu anh sao thì kêu, tụi tôi gọi anh là "anh Kính", đem lại cho anh một chút tình. Ngược lại, khi anh nói chuyện với tụi tôi, anh kêu tụi em, nghe thật ngọt ngào của những đứa bạn nghèo với nhau. Rồi một hôm, bà ngoại anh mất. Thiệt là anh hùng. Tụi tôi không thấy anh khóc. Anh chạy lên cha, báo tin xong xin lễ “hối tử” cho bà ngoại anh. Rồi một mình, anh lo tất cả. Dĩ nhiên là có tụi tôi theo phụ giúp anh, tối ở lại “canh xác”, dọn dẹp. Tuy nghèo, vậy mà anh cũng rán đem bà ngoại anh về chôn ở quê, cũng có tụi tôi đi theo.

Tống táng xong xuôi, anh tiếp tục “nghề” của anh, để kiếm sống. Anh cũng đi lễ mỗi sáng, cũng đá banh mỗi chiều, vậy mà rồi một ngày, không ai thấy anh đâu nữa. Nhà anh ở với ngoại anh, anh bán đâu mất tiêu rồi. Anh đi đâu mà không một lời từ giả, ít ra với những thằng em bạn nghèo của anh…

Ông cán bộ

Dần dà, người ta quên anh, và ngay cả tụi tôi cũng vậy…

Đùng một cái, biến cố 75 xảy ra! Không nhiều thì ít, lòng người chao đao! Trong họ đạo lòi ra mấy người “nằm vùng”. Rồi có mấy người “tập kết” trở về, người ta thấy có ông Năm Đông, làm việc ở cấp thành phố, Tư Cần về làm việc ở địa phương... Việc đạo bị thu hẹp. Các cán bộ, công an “khám xét” thường xuyên khu vực nhà thờ. Cán bộ đặc trách lo về an ninh ở phường là “đồng chí Hai Hùm”. Tên nghe thấy phát sợ!

3 tháng rồi mà chưa thấy cán bộ an ninh đến khu vực nhà thờ mà chỉ thấy có công an. Tư Cần thì mỗi ngày 2 lần sáng chiều đi về băng ngang qua khuôn viên nhà thờ, liếc mắt nhìn vô nhà thờ hay núi Đức Mẹ chớ không ghé vô. Một hôm, cha nhờ tôi đi lên phường gặp cán bộ an ninh để nhờ ký một giấy phép. Đến phường chờ! Đến hồi được phép gặp, một anh bộ đội rất trẻ có cầm súng dẫn tôi đến một phòng rồi biểu : “Vô đi!”

Trời ơi! Hồi nảy giờ, một phần sợ, một phần lo nhưng ít, bây giờ thấy mặt ông cán bộ tự nhiên tim tôi đập mạnh. Tôi bối rối thấy rõ. Ông chỉ cái ghế trước bàn “bu-rô” của ông như ngụ ý biểu tôi ngồi. Tôi nói cám ơn rồi ngồi xuống. Ông ngước nhìn tôi: nghiêm nét mặt, không nói một lời. Tôi cung kính hai tay cầm tờ giấy đưa cho ông: tim hồi hộp, không nói một lời. Ông đọc xong, vói tay lấy cây viết, ký cái rẹt, lấy dấu đóng nghe cái bụp. Xong ông đẩy tờ giấy về phía tôi. Tôi đoán xong việc rồi, cầm tờ giấy đứng lên, cám ơn và quay lưng đi ra.

Ra tới cỗng, chào mấy anh bộ đội gát cỗng xong tôi ra về mà đầu óc thiệt là rối tung. Về tới nhà thờ, tôi nói này nói kia với cha phó mà quên, không lo báo cáo kết quả. Nóng ruột cha hỏi:

       - Mà xong chưa?

       - Dạ xong! Ổng ký tên rồi. Mà cha có biết ông Hai Hùm là ai không? Con nghi đó là anh Kính. Mà ảnh không nhìn con cha! Ủa mà cha đâu có biết anh Kính phải hôn? Cha mới về đây có hơn 5 năm, còn ảnh đã bỏ đi cũng mười mấy năm rồi. Tức thiệt!

       - Tức cái gì?

       - Hồi nảy con tính hỏi ảnh “anh Kính, anh nhớ em không?” mà không dám, sợ rủi ảnh bắt ảnh nhốt..

Cũng là anh Kính

Xong công tác cho nhà thờ, tôi ra về, vừa đi vừa quay lại trong đầu những đoạn phim của những ngày đã qua. Tôi không về thẳng nhà mà ghé lại nhà người bạn. Vừa gặp mặt, nó hỏi liền:

       - Mấy gặp anh Kính chưa? Tao mới nói chuyện với ảnh hôm qua. Ảnh còn nhớ tên tao. Gặp tao, ảnh kêu liền "Minh, khỏe không em? Có vợ con gì chưa?" Tao có nói hôm nào anh ghé nhà em chơi. Tao hỏi: "Anh còn nhớ nhà em không?" Anh nói:

       - S...s...s...ao không? Cũng còn cà lăm như xưa.

Mấy hôm sau, một buổi sáng, đang đi lang bang, tôi gặp ông Hai Hùm: mình ông mặc bộ đồ cán bộ, chân ông mang đôi dép râu, vai ông đeo cái cặp da cán bộ. Thấy mặt, ông kêu tôi:

       - Sáng!

Tôi thấy cảm động quá sức, nước mắt muốn chảy ra. Thì ra anh còn nhớ tôi, còn nhớ tụi tôi. Anh hỏi thăm:

       - Khỏe không em? Dì hai còn khỏe không?

       - Má em chết rồi!

       - Thế à!

Anh có vẻ trầm ngâm một chút. Anh hỏi thêm:

       - Em có vợ con gì chưa?

       - Dạ rồi, em được hai đứa con rồi.

       - Em còn ở chỗ cũ hả?

       - Dạ!

       - Để hôm nào anh tới thăm em với vợ con em.

Một luồng điện chạy qua trong người tôi. Một cảm giác rất lạ xâm chiếm tâm hồn tôi, cơ thể tôi. Anh Kính của tụi tôi vẫn còn như xưa, vẫn cao lỏng khỏng, gương mặt dài dài, nước da đen đen, nhưng có vẻ hơi vàng, màu vàng của mấy người đau gan. Đặc biệt giọng nói của anh nghe cũng còn ngọt ngào như ngày nào.

Dần dà, sinh hoạt trở nên bình thường, tình nghĩa trở lại thân thiện. Anh đến nhà tụi tôi chơi. Có hôm, tụi tôi tụ tập lại tại một nhà rồi anh tới, anh em "đoàn tụ" lại, vui vẻ như ngày nào còn trẻ. Anh cũng ghé phòng cha phó uống cà phê, ăn cơm với cha, với anh em. Tôi ghét mỗi lần mà anh tới gặp các cha, anh hay nói: "Chào anh!" Tôi không chịu cách xưng hô này, đặc biệt từ miệng anh. Chiều chiều, nhiều hôm anh đi dạo vòng vòng với tụi tôi. Hôm đó, đi ngang nhà thờ. Anh dẫn tụi tôi ghé lại núi Đức Mẹ. Cây cảnh và bông được trồng nhiều và đẹp trước núi Đức Mẹ. Cứ nghĩ là anh muốn ngắm bông, nhưng không, anh đứng lại, nhìn về Đức Mẹ. Anh rút trong túi áo ra vòng "chuỗi mười kinh".

       - Chèn ơi! Sao anh có cái này?

       - Quí lắm em. Kỳ đó, anh đi đánh vô miền Trung. Vô một nhà, thấy có bàn thờ Chúa, anh cúi đầu chào. Bà chủ mừng quá, hỏi thăm, anh nói nhỏ với bà. Trước khi đi, bà đưa biếu anh, còn lén dặn: "Rán giấu, nhớ mà đọc kinh!"

       - Tưởng anh quên hết rồi chớ!

       - Giỡn! Đức Mẹ mà em! Quên gì quên chớ Đức Mẹ thì không bao giờ...

Cũng là thằng Kính

Rồi một hôm, anh than với tôi: "Bụng anh sau lúc rày nó đau quá!" Tôi hiểu. Tôi khuyên rồi dẫn anh đi khám ở bệnh viện Chợ Rẫy. Bác sĩ khuyên nên nhập viện. Anh tỏ ý lo ngại. Tôi hiểu: Rồi đây ai lo cơm nước cho anh? Cơm do "chị nuôi" nấu cho anh em cán bộ ở phường ăn chung, làm sao anh ăn được? Ai mà đem cơm vô nhà thương cho anh? Mua cơm ở ngoài ăn thì không tiện!

Tôi báo cáo cho cha phó. Cha chạy đi lo tìm nguồn bảo trợ. Cha nói: "Rán lo cho người trở lại!" Rồi anh vô nằm nhà thương, cơm nước cho anh mỗi ngày tụi tôi thay phiên nhau đem vô cho anh, ở lại chuyện trò với anh. Một hôm anh nói với tôi:

      - Mấy hôm rày thấy tình thương của cha, của tụi em, của bà con, anh cảm kích quá...

Sẵn trớn, tôi tấn công luôn:

       - Thôi anh đừng có lo nghĩ gì hết. Rán lo dưỡng bệnh, trở về lo đi nhà thờ nhà thánh..

       - Anh cũng có nghĩ đến vấn đề đó. Anh định hôm nào khỏe về, anh xin cha cho anh rửa tội lại...

       - Rửa tội gì nữa? Lo đi xưng tội để lo phần linh hồn...

Hôm đó, tôi với cha phó vô thăm anh. Cha đuỗi tôi ra ngoài, cha ở lại với anh trong phòng... Rồi một hôm, cả đám vô thăm anh. Anh mừng lắm. Anh chào cha phó: "Cha!" Tôi thấy sung sướng lạ. Anh đã trở lại từ từ. Tụi tôi mừng quá! Nhưng bác sĩ kêu tôi ra ngoài nói chuyện. Bác sĩ cho biết là bệnh tình của anh nguy ngập và hỏi: "Có ai lo cho anh không?" Tôi trả lời: cả họ đạo. Bác sĩ nói: "Tốt! Về lo cho ảnh đi!"

Có tin buồn chung trong họ đạo! Chuông "báo tử" ngân bảy tiếng chuông trầm. Tin được lan rộng ra trong họ đạo. Ai lo cho anh? Họ đạo đem anh về, quàng tại trụ sở của Thiện Hội Y-sa-ve trước đây. Phường cũng có cử người tới thăm anh, đem phúng điếu và phần tiền anh được hưởng. Mọi chuyện êm xuôi, cầu lễ, lễ qui lăng, đầy đủ hết.

Có người nói: thằng thiệt có phước, tưởng nó đi rồi mất luôn, ai ngờ nó trở về và trở lại đạo được, chớ không như thằng cha Tư Cần...

Có người nói: thằng Kính cà lăm chết rồi! Tôi nghiệm: Kính là tên gọi, cà lăm là tên tật, thằng là tước hiệu mà đời dành cho những người nghèo, thấp kém.

Anh chết đi, không ai khóc anh. Tôi viết bài này để khóc anh!