Nguồn Cậy Trông

Hôm đó, cha khách đến từ Vancouver đã kể một câu chuyện liên quan đến cuộc sống của người dân Việt ly hương: một người Việt còn trẻ khoẻ, đến định cư tại vùng Vancouver. Anh đã tìm được một công việc “không tiền không chữ” là đi đốn cây. Cần gì chữ nghĩa, người ta biểu sao làm vậy. Hơn nữa, công việc này đòi hỏi nhiều ở sức khoẻ, mà anh có. Ngay ngày đầu, anh đã làm “manager” hài lòng, và những người bạn Việt khác cũng mừng cho anh. Anh đã làm việc rất giỏi, không ngưng tay. Giờ nghỉ, anh chỉ ăn qua loa rồi tức tốc trở lại làm việc. Hết giờ làm, mặc cho ai nấy ra về, anh nán ở lại làm thêm khi còn tỏ trời, mong sao có được nhiều tiền cho gia đình. Đến cuối tuần, anh hồi hộp chờ đợi nhận lãnh tấm chi phiếu đầu tiên anh làm ra được trên đất khách. Anh đã vô cùng kinh ngạc khi người “manager” trao cho anh tờ chi phiếu với lời cám ơn và cho anh biết là anh “khỏi” trở lại làm việc tuần tới. Anh ngạc nhiên đến đau khổ, và thắc mắc không biết nguyên do tại sao anh mất việc khi anh đã làm việc rất tất bật. Anh phải nhờ một người anh em giỏi tiếng Anh để làm thông dịch viên, giúp anh hiểu rõ được lý do đã khiến cho anh mất việc quá nhanh sau một tuần lẽ làm việc đắc lực. Người “manager” đã đưa cho người bạn thông dịch viên coi cái búa mà anh đã dùng để đốn cây. Thì ra, anh đã mất việc vì đã dùng cây búa không được mài bén thường xuyên để làm việc, để đốn cây!..

Anh ta không biết, nghĩ rằng lo hăng say làm việc là tốt, nhưng quên bẳng đi hay không biết một việc quan trọng là phải lo gọt giũa dụng cụ, giữ gìn dụng cụ. Câu chuyện này đặt ra vấn đề rất ý nhị: phải luôn lo chăm sóc, gọt giũa lại dụng cụ, phương tiện, ngay cả trong việc lo cho phần linh hồn. Câu chuyện cũng đặt ra vấn đề: ai là người giúp cho thấy được vấn đề hay ai là người liên đới trách nhiệm?

Câu chuyện cha khách giảng đã khiến tôi nhớ lại chuyện đã xảy ra tại quê tôi, lâu lắm rồi.

***

Chuyện tuy đã xảy ra lâu lắm rồi, tính ra cũng có đến 60 năm, mà nhiều khi nhớ lại, tôi cứ nghĩ là mới vừa xảy ra hôm nào. Tôi vẫn còn thấy lại trong ký ức hình ảnh của những ngày “hội lớn” đó ở quê tôi. Tôi như còn nghe văng vẳng bên tai những giọng nói tiếng cười. Thật là vui! Còn gì vui hơn ở cái tỉnh nhỏ, nghèo khi có một cuộc đón rước tưng bừng, trọng thể. Tôi lại muốn kể lại chuyện về các cha Dòng Chúa Cứu Thế. Lần đó chính là lần đầu tiên, theo như tôi biết, mà nhiều người dân xứ tôi có được dịp làm quen, biết các cha dòng, có lẻ như vậy, bởi vì ở ngày nào xa xưa hơn nữa thì không biết.

Mấy người có phương tiện, đi đó đi đây, lên xuống Sài Gòn thì đã có cơ hội biết. Nghe kể, người ta biết các cha dòng nào là dòng Phan Xi Cô, dòng Đa Minh, và dĩ nhiên là có dòng Chúa Cứu Thế nữa. Còn lại thì hình như nhiều người chỉ biết có cha sở. Rồi một vài lúc, cha sở già, người ta biết thêm cha phó. Đến kỳ Thêm Sức thì biết thêm cha bề trên, mà là cha bề trên Khâm chớ không phải cha bề trên nào khác. Hình như tên cha Khâm được hiểu là cha bề trên, mà cha bề trên thì chính là cha Khâm đó! Còn Đức Cha thì cũng “nghe nói” là mình có Đức Cha Tây! Nói về Đức Cha thì người dân xứ tôi luôn luôn hãnh diện là có Đức Giám Mục tiên khởi Việt Nam là cha sở cựu Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, được phong Giám Mục năm 1930(?). Còn như có ai cắc cớ hỏi bây giờ (lúc đó) Đức Cha Tòng ở đâu thì …

Cái tên Sài Gòn thì cũng không xa lạ gì cho lắm, nhưng Sài Gòn ở đâu? Giờ biết được các cha dòng ở trên Sài Gòn xuống thì để cho dễ hiểu, đưa tay chỉ lên trời rồi nói: các cha ở trên Sài Gòn xuống là chắc đúng. (Xin nhắc lại vì đã có nói đến rồi) Ba cha đến lần đó là cha Yến, cha Lapointe, và một cha người Gia Nã Đại mà tên khó đọc nên tôi không còn nhớ ra được. Sau khi được cha sở thông báo, bà con đứng đông nghẹt sân trước nhà thờ, để đón các cha. Một ông biện, từ phía chợ, đạp xe chạy nhanh về, vô sân nhà thờ, miệng la to: Xe tới rồi! Các cha tới! Bà con đứng vẹt ra, để có đường xe hơi chạy vào. Xe chạy vô sân nhà thờ. Các cha bước xuống. Cha Yến đưa hai tay lên cao chào bà con. Hai cha “Tây” bước xuống xe. Chèn ơi! Ông cha Tây cao lớn người mà sau này chúng tôi biết đó là cha Lapointe, bước xuống xe, cha cười, cha đưa tay vẫy chào mọi người. Cha nói: Chào tất cả anh chị em, mành giói. Chèn ơi! Cha Tây biết nói tiếng Việt. Bà con vui quá, sung sướng quá, mừng quá, la lên: Cha! Cha!

Khi mọi chuyện đã đâu vào đó, các cha “ra tay.” Sinh hoạt với trẻ nhỏ ở nhà thờ, cử hành thánh lễ, giải tội, giảng trong nhà thờ, đi thăm viếng là những việc làm của các cha đã để lại nhiều ghi nhớ trong lòng người dân xứ tôi. Tôi muốn nói là ngưòi dân xứ tôi chớ không phải là bổn đạo xứ tôi, vì nhiều người không kể ngoại đạo đã có dịp nói chuyện, bắt tay các cha, mà hình như, theo tôi thấy, nhiều người tỏ ra hài lòng. Như ông phán Đồng, ông là người bên lương. Thấy cha người Gia Nã Đại đi ngang nhà, ông bước ra mời cha vô nhà ông chơi. Cha vô. Cha và ông nói chuyện gì với nhau cũng khá lâu. Khi đưa cha ra khỏi nhà, ông còn đi theo cha thêm một đoạn đường nữa rồi mới chịu bắt tay từ giả. Tôi nói tới ông phán Đồng vì ông là người “Tây học”, thích nói tiếng Tây, bàn chuyện chính trị, mặt ông hình như lúc nào cũng “chầm dầm” vậy mà hôm đó, khi đưa tiễn cha, ai cũng thấy rõ ràng mặt ông có vẻ vui tươi hớn hở!

Các cha quen với mọi người. Mọi người quen với các cha, kể cả những người bên lương. Đi đâu, gặp ai, các cha cũng chào, có vẻ thân mật. Như chú Tám Trang một người ham mê đá banh, là thủ môn của hội banh tỉnh tôi, làm nghề sữa xe đạp, thấy cha dòng đi ngang chỗ chú làm. Chú đứng lên, chạy lại bắt tay cha. Cha bắt tay và nói: “Chao oong tằm!” Cha đi rồi, chú ta khoe với mọi người: “Thiệt là ông cha!”

***

Còn cha Lapointe, cha đi với tôi ở vùng Xóm Nò, đối diện với nhà thờ. Tôi lại có dịp được nắm tay đi với một người và mở miệng gọi là cha mà từ mấy năm rồi tôi không còn có nữa. Cha thì cao lớn, còn tôi thì nhỏ xíu. Râu cha dài, dài xuống tới giữa ngực của cha. Những khi tôi nói gì mà cha không nghe rõ, cha khom xuống để dễ nghe hơn. Mỗi lần như vậy, hàm râu dài của cha quơ qua quơ lại trên đầu tôi. Tôi thấy ngứa, đưa tay gãi đầu. Thấy vậy cha cười nói:

         - Cha làm con ngựa phài khoong?

Tôi không biết nói làm sao, cha cười đưa tay vuốt vuốt đầu tôi. Cha muốn tôi đưa cha đi thăm hết mọi người trong vùng Xóm Nò. Nhà nào cha cũng muốn ghé. Đi ngang một nhà, cha hỏi: nhà của ai, con biết không? Tôi trả lời cha rành rẻ. Xứ tôi có rộng bao nhiêu đâu. Người cũng đâu có bao nhiêu, nên tôi biết gần hết. Đi ngang một nhà có vẻ tịch mịch âm u, cha hỏi: Mình vô nhà này chưa con? Tôi vội trả lời như để ngăn cha: Đây là chùa cha! Thật ra đây không phải là một ngôi chùa. Đó là nhà riêng mà người chủ tu tại gia. Mỗi ngày hai lần, sáng 4 giờ, chiều 4 giờ có tiếng chuông công phu. Cha đòi ghé vô. Tôi vô. Bà sáu chủ nhà bước ra, hỏi: con muốn mua trầu hả con? Tôi chưa kịp và không biết trả lời làm sao thì cha đã vội lên tiếng: Chào bà!

Cứ như vậy mà hai cha con tôi đi cùng khắp. Ra khỏi nhà bà sáu “bán trầu cau”, cha đứng nhìn qua nhìn lại, rồi chỉ tay: Nhà ai đây con? Dạ nhà ông phán Thông!

          - Vô con!

Câu chuyện tôi muốn kể, phát xuất từ ngôi nhà này. Nghe chó sủa, bà phán bước ra, thấy cha, bà lên tiếng ngay:

           - Cha! Dạ mời cha vô nhà!

Ông phán Thông là người có đạo. Ông làm việc ở tòa bố, mà sau này người ta gọi là tòa hành chánh tỉnh. Bên trong thì làm sao mà biết được, chớ còn nhìn bên ngoài thì ai cũng thấy ông là đàng hoàng, đạo đức. Sáng nào ông cũng đi lễ rồi mới lo về đi làm. Còn ngày Chúa nhật hay lễ lớn thì khỏi nói, ông bà luôn luôn có mặt. Ông bà có ba người con. Cô hai Vinh, cô ba Hiển lớn lên lập gia đình đàng hoàng. Cô hai Vinh có chồng cũng làm trong tòa bố. Cô ba Hiển có chồng là thầy giáo. Còn lại chú tư Sang, chú đã được gởi đi Sài Gòn học. Trở về, chú cũng làm việc ở tòa bố, như cha.

Cha ngồi uống nước. Theo thói quen, cha hỏi thăm về gia đình bà. Bà cho biết giờ này ông phán đang đi làm. Cha hỏi thăm về con cái. Nghe đến đây, bà kể cho cha biết. Bà đưa tay chỉ hướng đi về nhà của hai cô con gái, rồi bà thở ra:

           - Dạ con còn thằng út, nó ở kế bên đây, mà nó bê bối quá cha ơi!

Bà kể chuyện về chú. Nếu chú có việc làm rồi lập gia đình, có vợ có con như bao nhiêu người khác thì đâu có chuyện gì để nói. Sống nơi tỉnh nhỏ, sinh hoạt giải trí không có, chú đi vui chơi với bạn bè. Bạn bè thì người vầy người khác, nếu gặp được người tốt thì đó là điều đáng mừng. Rủi gặp người không tốt nhiều khi khổ thân.

Bạn bè của chú tư Sang rủ rê chú đánh bài, gọi là để “đấu trí”, để giải buồn. Giải buồn cái gì?! Họ rủ rê chú vào con đường cờ bạc. Mà ai cũng biết, cờ bạc là bác, bác thằng bần. Hết tiền lương, tiền để dành, tiền cha mẹ cho, chú dùng luôn tiền của nhà nước để gỡ. Mà đời nào gỡ được, rồi chuyện không may đã xảy ra, chú thục kết, mà “thục kết” là phải đi ở tù. Ông bà phán phải lo biết bao nhiêu để chú được thả về sớm hơn hạn định. Mà đã mang danh là ở tù, gia đình buồn, chú buồn. Chú thấy xấu hổ với mọi người.

Bà dẫn cha qua nhà chú tư. Đó là một ngôi nhà nhỏ ông bà phán cất riêng cho chú bên cạnh nhà ông bà. Chú đang có ở nhà. Chú ở một mình, tối ngày ở nhà đọc sách. Cơm nước thì cứ tới giờ thì qua nhà ông phán để ăn rồi ra về lủi thủi một mình. Nhà thờ nhà thánh cũng không lui tới. Cha sở có đến thăm chú một lần rồi nhưng mà chú cũng không dám đi nhà thờ. Chú buồn, mà buồn chớ! Chú bị mặc cảm. Mà thiệt, không mặc cảm sao được. Đang danh giá bỗng trở nên kẻ ở tù về, chú không muốn gặp ai. Ông phán cũng khuyên nhủ nhưng mà chú chưa thấy an lòng khi phải gặp mặt người này người nọ trong vùng. Nay gặp riêng cha, chú không có ngại ngùng chi khi gặp cha. Chú vui vẻ mời cha vô căn nhà của chú, nói chuyện thoải mái, tự nhiên với cha Lapointe. Thấy sách vở trên kệ sách, cha hỏi thăm. Chú được dịp, nói chuyện học hành khi xưa của chú một cách hăng say. Rồi khi thấy cha nhìn bàn thờ trong nhà, chú mĩm cười.

Sau đó, cứ vài ba hôm khi có dịp đi ngang hay gần đó là cha ghé thăm chú. Mà mỗi lần như vậy, chú đều vui vẻ đón cha và nói chuyện với cha. Rồi hôm đó, buổi sáng, cha đi xuống nhà tôi, tay có ôm hai gói, gói trong giấy nhựt trình (là báo hằng ngày đó). Cha đưa cho tôi ôm cái gói nhỏ, cha cầm cái gói lớn. Hai cha con đi tới nhà ông phán Thông. Chú tư ra đón cha và mời cha vào nhà của chú. Bước vô nhà, cha để gói lên bàn. Cha mở gói ra: một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cở to, một cây thánh gíá bằng cây loại để treo trên tường, một cuốn sách làm việc Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp…

Tới lui với chú cũng mấy lần rồi mà chưa thấy chú đi nhà thờ, hôm đó buổi chiều, trước giờ lễ, cha Lapointe lại đi tới nhà ông phán, cũng có tôi theo. Như có hẹn trước, chú đã ăn mặc chỉnh tề. Cha tới, chú đón cha. Cha vào nhà nói chuyện tầm phào, chuyện gì đó lung tung mà nghe tôi không hiểu. Rồi cha với chú cười. Thấy tôi không cười, cha đưa tay vuốt đầu tôi. Kế tôi thấy cha rút trong vạt áo của cha ra một cái đồng hồ tròn, cột vô một sợi dây. Cha cất lại rồi nói:

          - Thôi đi con!

Hồi nói chuyện thì tôi thấy chú tư Sang có vẻ hăng say, tới chừng nghe cha nói “thôi đi”, chú đứng lên có vẻ chậm chạp, uể oải, như người hết gân hết cốt. Và rồi cũng xong, tất cả lên đường. Cha đi ở giữa, chú tư đi bên phải của cha, tôi nắm tay cha, đi bên trái của cha. Từ nhà chú tới nhà thờ, đi có chút xíu là tới vậy mà mấy tháng nay, sau ngày ở tù về, chú đi không tới nhà thờ!

Tuy chưa tới giờ đọc kinh, người ta đã đứng nói chuyện phía trước hay bên hông nhà thờ. Thấy vậy, mấy người lớn tuổi bàn tán:

          - Thằng tư Sang vậy mà ngon nha! Đi nhà thờ mà có cha dòng hộ tống! Nhứt trên đời rồi!

Một ông chen vô:

          - Thấy thằng tư Sang, tui thấy thương ông bà phán!

Một người lại góp thêm:

          - Anh nói vậy chớ tui thấy cũng thương nó quá!

Một người tỏ ra sành đời:

          - Nói thiệt nha! Tui thấy thương cha Lapointe với mấy ông cha dòng quá! Cha sở mình đâu có giờ mà lo được như vậy.

Ông ấy giảng giải:

          - Mấy anh nhớ hôm bữa cha dòng giảng có nói về vụ cầu nguyện cho người sa ngã, nguội lạnh hôn? Tui đoán chắc là cha nói về thằng tư Sang. Ông cha ổng lại nói: Đức Mẹ là nguồn cậy trông. Dòm thấy ông cha dẫn thằng tư Sang đi nhà thờ, tui tưởng như Đức Mẹ đang dẫn nó đi đó chớ!