Bài đã được đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 246, tháng 2 năm 2007
Xin được ơn chết lành trong tay Đức Mẹ

Anh ta chưa chết. Anh ta mới “gần chết” thôi, nhờ vậy mà tôi mới được nghe “người trong cuộc” kể lại chuyện mà từ lâu lắm rồi tôi đã có nghe nói tới mà không tin cho lắm: khi người ta gần chết, ma quỹ thường hay hiện ra lôi kéo?! Anh ta bệnh nặng: mổ tim. Anh nằm mê man, mơ mơ màng màng. Đêm đó, anh thấy như có ai mò chân anh. Anh mở choàng mắt dậy: vợ anh vẫn mệt mõi, nằm ngủ khò nơi chiếc giường nhỏ ở góc phòng. Ai? Trong phòng chỉ có hai người! Anh lại thiếp đi. Lại có người mò chân. Anh rán nhướng mắt nhìn xem, anh thấy một “thằng”! Không, một người! Không, đúng là một thằng! Nó ở trần, nước da ngâm đen. Nó nhìn anh nó cười. Miệng nó hả ra, thấy đỏ lòm. Anh định đá cho nó một cái, nhưng đá không nổi. Anh mở miệng muốn la, nhưng la không được. Anh rán chồm người lên phía đầu giường chụp lấy xâu chuỗi lần anh có đem theo vô nhà thương: “thằng đó” biến mất!

Tao luôn cầu xin

Năm đó, 1989, nhân lễ thượng thọ bát tuần của bác tôi, Giám mục địa phận Cần Thơ Gia-cô-bê Nguyễn ngọc Quang, chúng tôi đến mừng và quay quần bên bác. Sau hơn 50 năm sống cuộc đời hiến dâng, tôi thấy bác tôi nay đã thực sự già ở cái tuổi còn một ngày nữa thì tròn 80. Bà con ở các nhà dòng, các họ đạo cũ nơi bác đã phục vụ đem quà cáp đến để chúc thọ. Bà con rất vui mừng được gặp lại “cha phó” của 50 năm về trước, 40 năm về trước, hay “cha sở” của hơn 35 năm trước đây. Nhiều bà con đã ngạc nhiên thích thú và vô cùng cảm động khi sau hơn 4, 50 năm mà bác tôi còn nhận lại được các ông biện ở Mặc Bắc, Dòng Gòn,… nay cũng đã già rồi. Có người đã không cầm được nuớc mắt khi nghe bác tôi hỏi “cây bưởi ông trồng trước nhà ông nay còn không, cây bưởi đó thiệt là ngon quá lẻ!” Hai vợ chồng ông biện già đã nức nở khi nghe bác nhắc lại: tôi còn nhớ khi tới nhà, bà đã làm gà để đãi tôi! Mấy mươi năm đã qua rồi, nay đã là 80, mà người xưa, chuyện xưa vẫn còn đọng lại trong ký ức!...

Tiệc tùng xong, bà con ngậm ngùi chia tay trong luyến tiếc, nhớ thương. Con cháu tiếp tục quây quần để rồi cũng sẽ chia tay. Khi nghe khen: bác còn nhớ dai quá, bác tôi đã nói: Tao luôn luôn cầu xin Đức Mẹ cho tao nếu có chết thì chết êm thắm, đừng để tao già rồi lẫn lộn, nói tầm bậy tầm bạ…Năm sau, 1990, một đêm ngủ rồi không thấy thức dậy như thường lệ, bác tôi được đưa đến bệnh viện, cứ nằm mê man rồi mãi mãi ra đi …

Bà là người có phước

Bà quả thật là người có phước. Bà chỉ có hai người con trai, hai người con đích đáng. Cả xứ Trà Vinh ai mà không biết gia đình bà, gia đình họ T.. Thoạt đầu, gia đình bà theo đạo “Ông Bà”, thờ Trời, thờ ông bà. Gia đình giàu có, cha của bà làm chức “cò mi” cho Tây. Làm cho có làm, cho có chức phận với người ta chơi chớ gia đình nào có cần gì tiền bạc. Nhà luôn luôn có tiệc, tiệc tùng với Tây. Tây chức phận có, Tây đạo có. Rồi Tây rủ rê ông đi theo đạo, đạo Tin Lành. Ông không tin, ông không theo. Ông nói ông có đạo ông bà. Tây không chỉ trích gì hết. Lân la thường xuyên, Tây giảng cho ông biết về “Chúa”, về Đấng tạo dựng nên đất trời. Lúc đầu ông không tin, riết rồi ông cũng nghiệm thấy chuyện. Ông tỏ ý muốn theo đạo, nhưng Tây không chịu rửa tội cho ông vì ông có cái tội rất lớn: hút á phiện. Giàu có lắm tiền nên ông tìm thêm thú vui với nàng tiên nâu. Nhưng hút á phiện là chuyện riêng của ông, tại sao lại muốn ông theo đạo mà cấm ông không được có niềm vui riêng? Lý lẻ đạo thì ông đã thông rồi nhưng còn việc rửa tội của ông thì chưa định được. Mục sư cố gắng khuyên nhủ, giảng giải nhiều lần mà ông chỉ chịu theo đạo chớ không chịu dứt tình với nàng tiên nâu. Tức chí, một ngày kia khi mục sư đến nhà chơi, ông dẫn vợ đi ra bờ sông. Ông đè đầu vợ xuống, ông tạt nước lên đầu vợ rồi tạt nước lên đầu ông. Ông nói: Mấy ông không chịu rửa tội cho tôi thì tôi tự rửa lấy một mình! Mục sư đành chịu thua. Vậy là ông theo đạo Tin Lành. Dĩ nhiên là các con ông cũng theo đạo của ông.

Bà là con gái. Lớn lên, bà đi lấy chồng. Chồng bà dĩ nhiên cũng theo đạo Tin Lành, và … giàu. Ông qua đời, để lại hai người con trai: một sau làm Giám Đốc hết cơ quan này đến cơ quan khác, một sau làm giáo sư Đại Học. Có một lần bà đau phải vào bệnh viện, bệnh viện của nhà giàu: bệnh viện Grall. Việc chẩn đoán của các bác sĩ đưa đến kết luận là phải mỗ. Bà đau ở bụng. Nhiều cơn đau quằn quại làm cho bà xuất mồ hôi, bà rên la. Bà rất khổ sở. Con cái đau lòng! Bà phải chờ đợi đến ngày mỗ. Mỗi chiều, bà thường hay đi ra bên ngoài ngồi chơi, hóng gió. Bà thích ngồi trước hang đá Đức Mẹ của bệnh viện. Trong hai tuần chờ đợi, ngày nào bà cũng khấn vái: “linh thiêng, xin phù hộ cho tôi hết đau, khỏi phải mỗ. Tôi sợ mỗ lắm!”

Bà kể lại: Đêm đó, bà nằm mơ thấy cái đứng ngoài núi đó đã hiện ra với bà. ấy không có nói gì cả. đi đến giường bà nằm, lấy tay giở tấm drap đấp trên người bà. lấy tay vuốt bụng bà, rồi biến mất. Sáng hôm sau, các bác sĩ đến để chuẩn bị cuộc giải phẩu. Bà được “chụp hình” lại. Hình chụp không thấy dấu vết của căn bệnh. Các bác sĩ khám lại, bóp bụng bà. Bà không than đau như các lần trước. Bà hết đau? Bà lành bệnh? Bà được giữ lại thêm vài ngày trong bệnh viện. Bà được cho “chụp hình” lại: không bệnh! Bà được cho về. Trước khi lên xe đi về, bà đã ra núi Đức Mẹ. Bà chấp tay, cúi đầu lạy tạ ở hang đá. Bà cả quyết là “Bà” này đã chữa bà lành bệnh. Dẫu không phải là người Công giáo, nhưng có ăn học, con cái bà giải thích cho bà biết đó là ai. Bà đã cho con cái biết bà muốn theo đạo của đã cứu bà…

Bà đã theo đạo Công giáo. Hai con của bà cũng noi gương bà, dâu và cháu nội cũng vậy. Tóm lại là cả nhà bà đã theo đạo Công giáo. Nhưng rồi biến cố 75 xảy ra! Một trong hai người con của bà, lâu nay lén lút, đã được dịp bày tỏ công khai chính kiến của mình: thân Cộng… Ông đã chỉ trích chế độ cũ, chưởi Mỹ, đề cao xã hội chủ nghĩa, và dĩ nhiên bài bác tất cả các niềm tin! Ông tham gia các tổ chức “cách mạng”. Ông làm đại biểu quốc hội. Ông đã trở thành “con người mới.” Ông không còn tin ở đạo giáo. Vì con bà là một người “mới” của đảng, bà phải “yểm trợ” cho vai trò, chỗ đứng của con: bà không còn lui tới nhà thờ nữa!...

Bà tuy không còn tham gia các sinh hoạt đạo giáo nữa nhưng được một điều: bà vẫn còn âm thầm giữ đạo, vẫn còn âm thầm nhớ tới Chúa, nhớ tới Đức Mẹ, người đã chữa lành bệnh cho bà. Bà không còn đi tới nhà thờ nhưng bà vẫn đọc kinh hằng ngày, nhất là lần chuỗi. Bà giấu xâu chuỗi lần trong túi áo của bà. Nhiều lần bà ra ngồi sau hè để lén đọc kinh, lần chuỗi. Bà sợ con bà thấy. Ông ta cũng đã có lần thấy nhưng không nói gì. Ông ta thương mẹ, nễ trọng việc mẹ làm. Thấy việc giữ đạo của mình được bình yên, bà tiếp tục…

Rồi tuổi già đến. Chân yếu, mắt mờ, bà không còn đi lại được nữa, chỉ nằm một chỗ. Tuy không hoạt động thân xác được nhưng khi nằm một chỗ, bà vẫn đọc kinh. Tay bà luôn luôn có xâu chuỗi. Bà luôn luôn cầu xin, cầu xin với Đức Mẹ. Có lần bà nói lén với con dâu: mẹ cầu xin Đức Mẹ cứu mẹ! Bà yếu dần, yếu dần. Một bác sĩ quen thân với gia đình đến khám cho bà, có đề nghị gia đình chuẩn bị lo mọi việc cho bà. Bà cứ nằm đó, thở chậm chạp từng hơi thở yếu ớt. Con cháu bà mong bà được sớm ra đi bình yên, nhưng bà vẫn còn “nuối.” Con trai bà thì cứ quả quyết bà còn chưa đi được là vì bà còn “nuối” đứa cháu nội đang đi học ngoài Hà Nội chưa về được. Bà cứ nằm thiêm thiếp, thỉnh thoảng môi bà mấp mái như muốn nói một điều gì. Có “người” thấy vậy, nhớ lại trước kia bà đã sống đạo, có phải chăng giờ bà cũng ao ước được ra đi trong lẽ đạo. Đề nghị được nói với người con trai. Ông ta lặng thinh. Hình như ông ta đang suy nghĩ? Hình như ông ta không bằng lòng? Ông cứ gục đầu trong hai tay. Nhưng rồi ông ta vụt đứng dậy và nói: Thôi thì mọi việc nhờ anh lo giúp!

Cha Henri B.v.Lộc , dòng Chúa Cứu Thế, được đưa đến. Quen biết nhau trong công tác đại học với hai người con, cha chào hỏi qua loa rồi vội vàng xin phép vào thăm bà cụ. Cha đi đến giường bà nằm. Cha ngồi xuống. Cha nắm lấy tay bà và nói: "Bà! Tôi là linh mục, tôi đến thăm bà!" Nghe vậy, bà như muốn ngồi dậy, nhưng ngồi dậy không nỗi. Bà quờ quạng đưa tay tìm tay cha L. Hai tay bà nắm lấy tay cha. Cha nói: “Bà! Chúa thương bà…” Hai giọt nước mắt nhỏ rơi ra từ khóe mắt của bà! Rồi cha đọc kinh, làm những phép bí tích cuối cùng. Cha ra về. Hơn một giờ sau đó, bà ra đi thật nhẹ nhàng, sau một cái hắt hơi nhẹ.


Năm sự mừng, thứ tư: Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời,
ta hãy xin cho đặng ơn chết lành trong tay Đức Mẹ.