Ơn gọi giữa đời

Ngày Khánh Nhật Thế Giới Truyền Giáo năm nay sẽ được cử hành vào ngày 21 tháng 10 năm 2012. Đến ngày truyền giáo lại được nghe

lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt

và lại được nghe các cha nói đến ơn gọi. Không nghe tới thì thôi, chớ mỗi lần nghe nói tới là có nhiều chuyện để nhớ. Không làm sao không xúc động khi được nhìn thấy những hình ảnh và đọc những tin nói về các linh mục, đặc biệt là Việt Nam, đi phục vụ ở miền Thượng (Việt Nam), hay ở Phi Châu, Nam Mỹ. Các vị đến những nơi đó để làm gì? Khỏi nói cũng biết là để giảng đạo, mà ngày nay gọi là truyền giáo. Các vị đến những nơi đó không phải chỉ để rao giảng Tin Mừng, thực thi những công tác mục vụ, phụng vụ thường để gọi là phục vụ nước Chúa, mà các vị đã sống Tin Mừng giữa những người nghèo khó, bệnh hoạn.

Đề tài này nó có từ xưa chí rày, nên khi nhắc đến, nhiều chuyện xưa để nhớ và nhiều chuyện nay để nghiệm. Chuyện xưa thì hồi xưa ở xứ tôi …

***

Ông là người có tên tuổi tại xứ tôi, ít ra là tại họ đạo tôi. Thời xưa, hễ có đám cưới đám hỏi là phải có cau với trầu. Muốn có cau ngon và trầu tươi là người ta phải tìm đến ông. Nhà ông có một miếng vườn rất là rộng để trồng rau và trồng trầu. Số rau “sống” và trầu ông trồng nhiều hơn những vườn trầu hay vườn rau khác. Trầu và rau của nhà ông cung cấp cho cả tỉnh nhưng không hiểu tại sao người ta không gọi ông là trùm rau mà lại gọi ông là “trùm trầu.”

Người ta làm việc nhà nước thì phải lo sáng đi chiều về, còn ông thì không, cả ngày ông chỉ có đi ra đi vô. Phụ với ông, có con trai ông, ba người con gái và cô con dâu. Sẵn nhà bán trầu, có trầu nên ông thường hay ăn trầu. Sáng dậy, ngày nay, người ta “làm” một ly cà phê, còn ông và có thể nhiều người khác thời xưa cũng vậy, ông “làm” miếng trầu. Sáng nào cũng đi lễ, miệng nhai nhóp nhép miếng trầu, đi gần tới nhà thờ, ông mới lo phun bả trầu ra. Cứ thấy ông là thấy trầu, nên ngẫm lại cái tên “trùm trầu” gán cho ông cũng phải lẻ.

Ông “làm việc nhà” không giờ không giấc nên ông rất là rảnh rổi để làm việc nhà thờ. Ông tham gia tất cả mọi công việc từ khi ông còn trẻ. Cha thấy thương kêu cho ông gia nhập vô hàng ngũ quới chức. Ông đã làm từ chức “giáp”, lên biện, rồi câu nhì, câu nhứt, trùm nhì, sau cùng là trùm nhứt, chức vụ cao nhất. Ngày mà tôi biết ông thì ông đang là trùm nhứt trong họ. Chức vụ trùm nhứt của ông thiệt cũng rất là phải lẻ vì khi mà ông trùm nhì mới gần bảy mươi thì nghe nói đâu ông cũng đã tám mươi lăm tám mươi sáu gì đó, nghĩa là ông “trùm” hết mọi người.

Cuộc đời ông là một trang sử dài. Thời gian ông làm việc trong hàng ngũ quới chức cho đến ngày ông nằm xuống hơn bảy mươi năm. Ông đã chứng kiến nhiều sự kiện xảy ra trong họ đạo. Ông đã sống trải qua nhiều đời cha sở, từ Tây tới ta, từ cha Lợi (Bongain) tới cuối cùng của đời ông là cha Thông, qua các cha Tòng, cha Long, cha Đạt, cha Chánh. Cha nào làm việc gì, ông biết hết. Các cha hay bà con có gì không biết, tìm đến ông mà hỏi, ông sẽ kể cho mà nghe, nhắc lại cho mà biết. Có cái điều là câu chuyện gì đó, ông kể lại trăm lần như một, nghĩa là ông nhớ rất giỏi, khiến ai cũng phục ông, và phải công nhận rằng ông đáng là “trùm”. Các cha mới tới cũng thường tìm tới ông để trước là thăm ông, sau là hỏi thăm chuyện họ đạo trước đây.

Mà thời cha nào cũng vậy, năm nào cũng vậy, cứ đến tháng 10, nhất là đến ngày “khánh nhật truyền giáo”, các cha cứ nhắc và ban hát cứ hát:

“Lúc chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”

Mỗi lần nghe như vậy là ông tỏ ra buồn. Có lần ông đã nói: nghe nhắc tới chuyện này, tôi thấy mình thiệt là vô phước, không có con để dâng cho Chúa. Mà thiệt ông quả là người vô phước. Ông có một người con trai duy nhất thì đã có gia đình rồi, nên theo lẻ đạo, ông không có người để đáp lại ơn gọi. Ba người con gái phụ việc nhà với ông rồi lớn lên thì cũng bỏ đi tu ở nhà phước Thủ Thiêm rồi, mà con gái đi tu thì đâu có tính! Những ngày ông “già”, ông không có được một “đứa con gái” bên cạnh để săn sóc, chỉ có đứa con trai, con dâu và đám cháu nội vây quanh. Đến ngày ông “nằm xuống”, để tang cho ông người ta thấy có ba dì phước Thủ Thiêm, mặc áo dòng đen thả dài một dãy khăn tang trắng. Nhớ lại lời ông đã than vãn khi còn sống, có người đã nói:

- Kêu ổng dậy, hỏi ổng: bây giờ chịu chưa, còn muốn gì nữa, ông cũng có ba người con đi tu như ai vậy ..

- Anh không hiểu, theo tôi hiểu thì ý ông trùm là phải có con tu làm cha thì mới được gọi là trong nhà có ơn kêu gọi.

Tư tưởng này đã làm cho ông khắc khoải suốt cuộc đời. Tội nghiệp ông! Rồi tới chuyện ngày nay.

***

Không biết có phải là hồi đó, tôi ngủ gục hay sao mà không nghe rõ nên cũng cứ đinh ninh trong trí là có ơn kêu gọi khi đi tu làm linh mục, còn tu các chỗ khác thì … không tính. Bây giờ thì rõ ra rồi: các cha đã kêu gọi cầu xin cho ơn thiên triệu, cho có người trẻ đi tu, dấn thân làm linh mục hay tu sĩ để mở mang nước Chúa, bảo vệ nước Chúa. Một cuốn “sổ ghi danh để cầu nguyện cho ơn gọi Linh Mục hoặc Tu Sĩ…” được để ở giáo xứ tôi. Sau thánh lễ, gia đình ghi danh cầu nguyện được cha mời lên để nhận chén thánh, đem về nhà, đại diện giáo xứ, cầu nguyện cho ơn thiên triệu. Cuối tuần, chén thánh được đưa trở lại nhà thờ, gia đình khác sẽ thay mặt giáo xứ mà cầu nguyện.

Hai vợ chồng anh cũng có ghi danh, rồi lên nhận chén thánh đem về nhà để cầu nguyện. Đây là việc chung của giáo xứ, theo ý của cha chánh xứ, là để cầu nguyện cho, trong giáo xứ và cả những nơi khác, có người thuộc giới trẻ dấn thân vào ơn gọi, nghĩa là đi tu, tu dòng nào cũng được, không phân biệt nam hay nữ. Rõ ràng là như vậy, vậy mà độ hai tuần sau, khi thấy anh lò mò đi vô nhà thờ, có người lại hỏi cắc cớ: ủa sao anh còn đây, tưởng là anh đi tu rồi! Anh vui vẻ trả lời: Tôi cũng muốn đi tu lắm chớ, mà không được!

Tuy không đi tu, anh có mặt thường xuyên ở nhà thờ. Tuy không phải là ông từ nhà thờ, người ta thường thấy anh lo dọn dẹp nhà thờ. Hằng tuần, anh lo làm vệ sinh nhà thờ, làm trường kỳ. Đó là công việc ít ai thích làm. Những lần làm các “công tác” khác ở nhà thờ thì đông đảo người tham gia, còn công việc của anh, tuy không nặng nhọc gì nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có mấy người với anh. Công việc của anh: lau nền nhà, làm sạch các phòng vệ sinh …! Gần như không có tuần nào vắng anh. Lần nào đến để làm công tác anh cũng ăn mặc xập xệ, để dễ xoay trở, dọn dẹp, vậy mà có hôm anh thắt cà vạt để … đi làm lao động vệ sinh.

- Bữa nay làm gì mà trịnh trọng vậy?

- Chốc nữa, em phải lo đám táng.

Sáng hôm nào đến nhà thờ mà thấy anh ăn mặc trang nghiêm thì kể như hôm đó trong giáo xứ có chuyện buồn. Chuyện buồn không phải do anh gây ra nhưng mà là chuyện buồn không tránh được của người khác, anh đến để phụ giúp. Anh lại làm việc ít người làm được. Ra vô bệnh viện để thăm viếng, để rước cha đến để lo phút cuối cho những người đau yếu.

Một hôm, tại một nhà quàng, có người hỏi:

- Anh có biết ông đó không?

- Biết chớ!

- Tui đi mấy đám tang của người có đạo, hầu như lần nào tui cũng thấy ông ta. Lần đầu tui tưởng ông ta là người nhà đám tang. Gặp mấy lần như vậy rồi, tui mới biết là không phải.

Mà thiệt, đâu có phải. Anh đã giúp nhiều “đám” như vậy. Anh ta làm công tác xã hội, tự đặt cho mình nhiệm vụ để giúp người. Nơi anh, tôi thấy nghĩa của ơn gọi. Việc anh làm đã tạo được sự suy nghĩ ở những người “bên ngoài”, biết đâu nhờ đó bà con có thể nhìn thấy được đạo Chúa là đạo của tình thương. Đó chính là không “giảng đạo” mà lại “truyền được đạo”, là làm việc tông đồ.

Ngày thứ năm 23 tháng 8, 2012, tại Rome, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khẳng định: Các giáo dân là những "người đồng trách nhiệm" trong sự hiện diện và hành xử của Giáo Hội (l'être et de l'agir de l’Eglise). Ngài tuyên bố về vai trò của họ, và khuyến khích họ dấn thân nhận lãnh nhiệm vụ "tông đồ của Giáo Hội" và "hiệp thông" với các chủ chăn. Thiết nghĩ, khi cầu nguyện cho “ơn gọi”, ta cũng nên cầu nguyện cho những người đã “lỡ làng” không thể chọn con đường đi tu, nhưng vẫn theo được ơn gọi ở giữa đời.