Phải có ơn trên

Gần đây, lầu chuông nhà thờ có vấn đề. Lầu chuông được đặt trên cao, bên trong tháp nhà thờ. Mỗi lần nhà thờ có đổ chuông, đứng ngay bên dưới lầu chuông, tiếng kêu ọt ẹt bên trên nghe thấy hãi hùng. Mấy người dự lễ “lầu chuông” phải tránh đi. Biết vậy, các cha xem xét rồi không cho đổ nhiều chuông nữa, chỉ xài một chuông “bốn” (nhỏ nhất) để báo giờ lễ. Cha phó “nhứt” được phân công phụ trách sữa lầu chuông. Chuẩn bị đâu đó xong xuôi, cha phó kêu gọi anh em đến phụ công sức.

Đến ngày giờ đã định để khởi công, anh em đã có mặt đông đủ tại phòng cha phó thì “anh” đến. Cha phó giới thiệu anh với anh em. Anh ta đứng lên, khom người, quay vòng quanh, chào tất cả anh em. Đó là một người đàn ông có vẻ trọng tuổi. Da mặt hơi nhăn. Nước da ngâm ngâm. Tầm vóc trung bình. Lưng hơi cong cong. Anh ta có vẻ vui vẻ. Tiếng nói người miền Nam, giọng oang oang. Nói gì nói, gương mặt luôn luôn lộ vẻ bình thản, hay nói theo kiểu miền Nam, là tỉnh bơ.

Anh làm nghề mộc, chuyên môn cất nhà, sữa nhà, hay các công việc có liên quan đến mộc. Ngoài ra, anh có một biệt tài ít người biết. Biệt tài của anh ít ai cần đến, nhưng mà khi cần không dễ gì kiếm được người biết làm và làm được như anh. Anh có biệt tài sữa các lầu chuông. Họ đạo tôi biết anh ta là nhờ cha phó. Lúc cha còn đang làm cha phó ở họ Tân Định thì cha sở là cha Phan Văn Thâm có “rước” anh ta tới để lo sữa lầu chuông. Nhờ vậy mà cha biết, giờ về làm phó ở đây, cần anh, cha nhờ người “tầm” anh ta.

Sau chầu cà phê, cha có mấy điều nhắn nhủ:

- Bắt đầu từ hôm nay thì mình làm việc dưới sự hướng dẫn, chỉ huy của anh Mười. Anh em rán làm việc cẩn thận. Dứt khoát không đùa giỡn! Nó rất là nguy hiểm. Chuyện gì không may mà xảy ra thì có thể không những là hư hại thêm mà còn có thể làm chết người!

Anh tiếp lời cha:

- Dạ thưa cha, trước tiên, con xin đề nghị mình vô nhà thờ đọc kinh, xin ơn trên phù hộ. Sau đó mình sẽ lên thám sát lầu chuông.

Nói xong, anh xách túi đồ nghề đứng lên. Anh em đi theo cha phó và anh ta từ nhà cha qua nhà thờ. Anh ta vô nhà thờ, xăm xăm đi lại ngay dòng giữa, hai tay chắp trước bụng, cúi đầu chào bàn thờ: điệu bộ coi cũng được. Xong, anh ta thả mình xuống ghế ngồi, bật ngửa ra, hai cánh tay thả ra phía sau, để gát trên lưng ghế. Anh em suy nghĩ: “Chèn đét ơi! Thằng cha này trịch thượng! Bộ thằng chả không có đạo sao mà không thấy chả đọc kinh gì hết, mà vô nhà thờ lại ngồi cái kiểu gì kì cục!”

- Mà sao chả lại kêu gọi mọi người đọc kinh mà chả thì lại không đọc?

Đọc kinh cầu nguyện xong, cha dẫn hết lên lầu chuông. Anh em đi trở lại chỗ cửa lên lầu chuông. Anh kiểm điểm túi đồ nghề lại lần nữa: búa, cưa, đục, đẻo, đinh, ốc... Đủ hết rồi, kẻ trước người sau leo lên cầu thang. Anh đã đến đây quan sát lầu chuông cả tháng nay rồi. Địa thế trên lầu chuông, anh nắm rõ hết. Anh chỉ cây này phải thay, bỏ hẳn. Cây kia, mình đem xuống, tỉa lại. Anh chỉ cho anh em chỗ nào có thể đứng được, chỗ nào phải đứng khi nghỉ, đi thì đi ở những chỗ nào, trên những cây nào. Anh nhắc nhở:

- Xin anh em tuyệt đối không cười giỡn. Rán làm thinh nghe tôi. Lúc rảnh thì cứ đứng tại chỗ của mình mà đọc kinh, nhứt là van vái Đức Mẹ! Hôm nay, mình chưa có động đậy gì trên này hết. Mình xuống dưới đất lo cây trước cái đả!

Nghe anh ta nói, ai cũng có vẻ thán phục: đúng là người đạo đức, hở ra là nói tới Chúa tới Bà. Nhưng nghe anh ta nói, ai cũng thấy ngỡ ngàng khi nhớ lại cách anh ta ngồi trong nhà thờ: rõ ràng là người không có đạo. Xưa rày, mỗi khi làm công tác nhà thờ, thường chính các cha mới là người lo khởi xướng việc đọc kinh cầu nguyện, nhưng lần này không phải do các cha, mà một người thường, nhưng lại là một người hình như không phải là Công Giáo, xúi người khác đọc kinh còn mình thì không đọc. Việc chưa làm cho anh em mệt thể xác nhưng thấy hoang mang trong tâm hồn: anh này là ai?

Như vậy công việc ngày đầu là lên để cho anh em hiểu biết “địa thế” trên lầu chuông, và xuống làm công việc ở dưới đất. Sữa soạn đi xuống, anh lên tiếng:

- Anh em nhớ: hễ lên thì đừng có xuống, mà hễ xuống thì đừng có lên!

- Trời đất! Không lẻ lên rồi ở trên này hoài, hay là xuống dưới đất rồi không lên thì làm sao mà làm việc được.

Anh ta thản nhiên trả lời:

- Chớ làm sao mà anh vừa đi lên mà cũng vừa đi xuống được?

Hay! Đúng! Thiệt đúng là triết lý cao xa! Anh ta tiếp:

- Bữa nay, mình làm việc ở dưới, chỉ lên đây để tui chỉ cho anh em chỗ đi, đứng thôi!

Rồi cả đám đi trở xuống, làm việc dưới đất: chuyển tất cả các khúc cây lâu nay để bên hông nhà thờ ra phía trước nhà thờ, xoay lại, đem lên trên tiền đàng để khi trên lầu chuông dọn xong xuôi rồi thì đưa các khúc cây đó lên! Mấy khúc cây thấy mà hải hùng! Khúc nào khúc nấy được cắt ngay ngắn. Nói theo hình học thì mấy khúc cây có hình hộp dài, dài cũng cả chục thước. Hai đầu hình vuông mỗi cạnh độ sáu, bảy tấc. Cây này cha phó đã đi mua với anh mười, nghe nói đâu ở trên rừng. Mua đem về, cha thả bên hông nhà thờ, rồi lo phết dầu nhớt, để phơi nắng.

Hai người lớn tuổi được yêu cầu bước qua một bên. Khởi sự lúc khoảng 9 giờ hơn, mười lăm mười sáu anh em trẻ, khoẻ đem được 4 khúc cây ra phía trước nhà thờ, đi một đoạn đường dài khoảng mười thước hơn! Ai nấy cũng mồ hôi nhuễ nhại! Đứng thở lấy hơi, ngắm mấy khúc cây, anh nói một cách mừng rỡ:

- May quá, còn đủ hết! Cha bỏ cây đây mà ăn trộm không vô lấy cũng thiệt là may!

***

Tới giờ nghỉ trưa để ăn cơm, nghỉ ngơi, anh nói hai tiếng “xin lỗi” rồi xong là cởi áo ra, ở trần trùi trụi! Ngồi gần anh ta, tôi làm quen, rờ bắp tay anh ta. Tôi khen: thiệt là rắn chắc, đúng là bắp tay con nhà võ. Anh ta nói liền:

- Vỏ đâu có chắc chắn gì! Cái lỏi hay ruột cây mới là chắc chớ!

Đúng là va chạm nghề nghiệp! Trưa, anh em nghỉ, có cơm cha phó chạy lo, xong có cà phê đá, bánh chuối. Anh không ăn, ngồi vê thuốc hút, chờ. Một phụ nữ xách cơm đến cho anh. Tới trước nhà các cha, chị hỏi:

- Thưa quí anh có thấy anh mười ở đâu không?

Làm công tác, trong họ đạo đã có tới hai anh “mười”, anh em thiệt tình hỏi:

- Dạ, anh mười nào chị?

Ngồi trên hành lang nhà cha, nghe vậy, anh vuột miệng:

- Mười Tha La!

Nghe tiếng anh, chị cười có vẻ mừng rỡ. Thấy vậy, anh em hỏi:

- Anh là Mười Tha La. Vậy anh ở Tha La hả anh Mười?

Anh trả lời ngay:

- Không! Tôi ở đây!

Đoán được sự thắc mắc của anh em, anh giải toả ngay vấn đề:

- Mấy bữa hổm á, tôi còn ở trên Tha La, chớ bây giờ thì tôi đang ở đây!

Thiệt! Đúng là gặp dân thứ dữ!

Chị ấy trắng trẻo, xinh xắn người! Nhìn nét mặt, ai cũng thấy được sự chênh lệch tuổi tác. Như đoán được sự thắc mắc của anh em, anh nói bâng quơ:

- Trai tài gái sắc gặp nhau!

Quen rồi, có anh em hỏi:

- Anh gốc gác ở Tha La, hay ở đâu tới đó lập nghiệp?

Trầm ngâm một lúc, anh vân vê rồi đốt điếu thuốc, hít một hơi dài. Anh ngước mặt lên, mắt lim dim, mơ màng nhìn theo làn khói thuốc bay rồi nói:

- Tui ớ!...

Giọng nói của anh sao tự nhiên nó đổi khác, nghe nó là lạ, nghe như tiếng nói của người từ thế giới xa xăm:

- Tui ớ! Tui là ngời ửa ngòi Quởn Ngởi! Nem mờ Bẩu Đợi về nót, thì tui cỏng điệt mời lem rùi. Hùi đó, có cói dụ bét lính khố xen khố đủa, bơ mớ tui mói dẻn anh ôm tui ben rèng, chẹy dô Nôm đẻ trón. Bọn tui chiên mon lèm rèng. Hiết chủa nài mùa tới chủa khét, đi miết rùi té miệt Tho Lo, thé ở điệt, nen ẻ luon. (Tôi á! Tôi là người ở ngoài Quảng Ngãi! Năm mà Bảo Đại về nước, thì tui cũng được mười lăm rồi. Hồi đó, có cái vụ bắt lính khố xanh khố đỏ, ba má tui mới dẫn anh em tui băng rừng chạy vô Nam để trốn. Bọn tui chuyên môn làm rừng. Hết chỗ này mò tới chỗ khác, đi miết rồi tới miệt Tha La, thấy ở được, nên ở luôn).

- Vậy anh em anh còn đông không?

- Lèm sâu mè kèn đủ đẹt! (Làm sao mà còn đủ được!)

- Thôi đi anh ơi! Anh nói giọng Tha La đi, tụi tui mới nghe được. Chớ anh mà nói cái giọng “en khong en thì két” ai mà nghe cho được!

Làm thêm một hơi thuốc, anh đổi giọng:

- Ba má tui thì chết hết rồi. Anh em tui chỉ còn tui với hai đứa em gái. Sáu người kia chết hết rồi!

Im lặng một chút để lấy hơi, anh nói:

- Anh em cũng hiểu, nghề làm cây thì phải vô rừng, mà vô rừng thì có cọp, mà cọp thì hay bắt người...

Rồi anh đưa cánh tay lên, gồng bắp thịt, lấy tay bóp bóp bắp thịt, nói:

- Bị nhờ thịt tui dai quá, cọp chê nên tui mới còn...

Anh bỏ lửng câu.

- Nghe nói ở Tha La phần đông là người có đạo, nhưng sao mà anh lại không có đạo?

- Vợ tôi có đạo chớ!

Đấy! Đấy là anh Mười Tha La, một người có biệt tài sữa lầu chuông. Nhiều nhà thờ ở miền Nam đã có in dấu chân anh...

***

Giây phút nghiêm trọng bắt đầu. Toán làm việc được chia làm hai nhóm: một nhóm ở trên lầu chuông, một nhóm ở dưới đất. Nhóm ở dưới đất có nhiệm vụ đưa các khúc cây lần lượt đến bên dưới lầu chuông. Nhóm ở trên có nhiệm vụ kéo khúc cây lên cho đến nơi rồi đặt vào nơi anh Mười chỉ định. Một khúc cây được kéo lại bên dưới lầu chuông, đầu khúc cây nằm ngay bên dưới ngay dưới lỗ hổng nhìn lên lầu chuông. Chính tay anh Mười đóng mấy cái đinh, móc to tướng vào đầu cây. Một sợi dây nhỏ, nói là nhỏ chớ cũng to bằng ngón tay cái, từ trên cao được thòng xuống, buột vào đầu một sợi dây lớn, to bằng cổ chân. Sợi dây nhỏ kéo sợi dây lớn lên, để lại một đầu ở dưới đất. Anh Mười quấn sợi dây to vào đầu cây. Anh ghì mạnh sợi dây, rồi kêu trên kia kéo thử. Đầu cây được buột bởi ba sợi dây to. Anh thử hết mọi sợi dây. Anh lại kêu trên kia kéo thử.

Anh lại chạy lên lầu chuông, kiểm điểm trên đó. Anh chạy trở xuống. Anh hớp nhanh miếng nước trà. Anh yêu cầu cha đọc kinh. Anh em yên lặng, cúi đầu, đọc kinh. Đây là giờ phút quan trọng, cực kỳ quan trọng. Đọc kinh xong, anh yêu cầu tất cả, đừng ai nói gì hết, lắng tai nghe anh. Anh la to, thiệt là to, để trên dưới gì đều nghe được tiếng anh:

- Đẩy! Kéo!

Anh em bên dưới lo đẩy cho khúc cây chạy tới. Anh em bên trên lo kéo để đem khúc cây lên. Khúc cây chuyển mình. Một đầu cây cất đầu lên. Đẩy! Kéo! Khúc cây nhấc mình lên cao. Đẩy! Kéo! Khúc cây đã lấy được vị trí thẳng đứng:

- Xê ra hết!

Anh em bên dưới tránh ra hết. Bên trên tiếp tục kéo. Anh chạy nhanh lên lầu chuông. Khúc cây tiếp tục từ từ đi lên. Kéo! Khúc cây đi lên nữa. Rồi khúc cây khuất tầm nhìn của anh em đứng bên dưới. Yên lặng. Yên lặng. Một tiếng kêu sung sướng:

- Rồi!

Mọi người thở ra! Cha phó, nảy giờ nín thở, lên tiếng: “Lạy Chúa tôi!”

Nghỉ ngơi, anh em có người nói:

- Có tiếng la to như anh mà ra trận, la một cái địch khiếp vía hồn kinh, chết xỉu hết.

- Ra trận mà la to như tui, địch nó nghe, nó tưởng súng cà nông đặt ngay đây, nó xúm lại bắn thì kể như rồi đời!..

Công thức “đẩy-kéo” được lập lại cho đến khi tất cả tám khúc cây, mỗi khúc ước chừng cũng phải cả trăm kí lô, hay hơn, được đưa lên lầu chuông, cao hơn 10 thước. Ở trên cao đó, anh em sắp xếp lại các khúc cây, xê dịch lại các quả chuông nặng từ một đến vài trăm kí lô mỗi quả, bằng sức lực của tay chân? của đầu óc?

***

Sau hơn hai mươi ngày, công việc kể như xong xuôi. Chiều hôm đó, các chuông đã được đem lên chỗ cũ, bình yên. Anh, một tay cầm cây búa khá to, leo vòng vòng. Anh đập mạnh vào các khúc cây, vừa đập vừa lắng tay nghe. Anh đang kiểm lại. Anh yêu cầu tất cả im lặng. Anh nhờ một anh khác đập vào các khúc cây. Anh kê tai vào các khúc cây khác để nghe. Nét mặt anh nghiêm nghị. Đôi mắt anh nhìn lộ vẻ suy nghĩ thật nhiều. Gật gật đầu tỏ vẻ hài lòng, anh lại kêu cha và tất cả anh em vô nhà thờ tạ ơn Chúa và Đức Mẹ:

- Nói hổng phải nói chớ, làm gì làm, đừng bao giờ quên xin ơn trên!...

Hai hôm sau, gần đúng ngọ, anh trở lại thăm từ giả các cha và anh em để rồi anh sẽ trở về Tha La, để rồi có nơi nào cần, anh sẽ đến để làm việc với tất cả kinh nghiệm anh tích lũy lâu nay, với tất cả tấm lòng. Gần đến 12 giờ trưa, anh mời các cha ra trước sân nhà thờ để nghe chuông đổ. 12 giờ trưa! Chuông đổ. Ai nấy ngẩng đầu lên nhìn về tháp chuông. Anh nhắc các cha:

- Các cha đọc kinh đi!

Các cha nghe lời anh, làm dấu đọc kinh “nhựt một”, giữa trời. Anh đứng lặng yên. Tôi thầm nhớ mấy câu thơ của Nguyễn Bính:

Chuông ngọ từng hôi chuông ngọ đổ
Từng hồi chuông ngọ đổ chơi vơi
Con nghe chuông đổ mà con khóc
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!

Anh bắt tay từ giả, quay lưng lại, ra đi. Kể từ hôm đó, chuông nhà thờ ở họ đạo tôi lại ngân vang bình thường. Chuông vẫn ngày ngày lên tiếng ngân, khi chậm, khi nhanh, khi buồn, khi vui. Người ta rồi cũng từ từ quên đi, không ai nhắc đến anh Mười Tha La...

***

Hai năm sau, một hôm trên đường đi xuống miền Tây để sữa lầu chuông, anh ghé lại họ tôi, cũng lúc 12 giờ trưa. Anh cố tình ghé lại vào khoảng giờ này vì như vậy, anh có thể nghe chuông đổ, để kiểm lại công trình của anh. Khi anh trở lại, anh đứng ngay dưới lầu chuông. Chuông đổ, anh lắng tai nghe, đầu gật gật. Vào thăm cha phó một chút, rồi anh vội vả ra đi. Rồi hơn ba năm sau, anh trở lại với vợ. Lần này, anh ăn mặc tươm tất. Tôi đoán ngay là anh không đang trên đường đi “công tác” đâu đó. Ngồi nói chuyện chơi trong phòng cha phó, nhâm nhi tách trà nóng, anh tâm sự:

- Tui giải nghệ rồi cha!

Tách trà làm anh thấm giọng, anh thêm:

- Giờ tui cũng già rồi, nghỉ ngơi vài năm rồi lo về..

Anh buông lửng. Hơn hai mươi ngày làm việc chung với anh, tôi cũng hơi nằm lòng cách nói chuyện của anh. Tôi biết anh “lo về” đâu rồi! Tôi cứ nhớ tới ngày Bảo Đại về nước để làm chuẩn và tính thì anh cũng đang độ ngoài bảy mươi. Bảo Đại về nước năm 1932 theo như sử sách ghi. Lúc đó, anh được “mời lem” (15). Năm anh đến để sữa lầu chuông là 1984, như vậy cọng thêm 52 thì anh đã là 67. Năm nay anh trở lại, 1989, cọng thêm 5 nữa thì anh đang là 72. Anh khoe: - Giờ tui hết theo nghề làm cây, tức là giết cây. Tui đang lo trồng cây. Hồi xưa, tui làm cây rừng, to, giờ tui làm cây nhỏ không hè! - Cây gì mà nhỏ? - Bông, kiểng. - Thì ra...

Giờ luống tuổi rồi, sức khoẻ giảm đi, anh không còn làm nổi nghề mộc, không còn làm nổi công việc sữa lầu chuông. Ai cũng hiểu: Phàm làm nghề mộc, người ta có tổ của nghề! Bây giờ không còn theo nghề mộc, anh tìm làm công việc nhẹ nhàng: trồng bông kiểng để chưng trong nhà thờ. Tuổi đã xế chiều, anh tìm nơi nương tựa vững chắc cho tâm hồn. Anh trở lại đạo. Tính thích giảng giải, anh nói: - Tui theo đạo Chúa rồi, theo đạo của vợ tui, người ta nói tui là người “theo đạo vợ”. Mấy anh theo đạo lâu rồi, là “dân đạo cũ.” Tui thì mới theo đạo, nên tui là dân “đạo mới.” Mà ở đời, đâu có cái gì quí bằng cái mới, phải hông cha? Mới bao giờ cũng quí hơn cũ. Tính ra, mấy anh đâu có bằng tui!

Nói xong, khoái chí, anh cười hề hề! - Anh là người ăn gian, anh giữ đạo có mấy năm thôi rồi đây...

Anh chận lời ngay:

- Không! Mấy anh đừng có nói vậy! Tuy rằng tui chưa theo đạo, nhưng tui giữ đạo từ ngày tui gặp vợ tui lận. Như mấy anh đã thấy, nghề của tui đâu có dễ dàng. Nó vừa nặng nhọc, vừa nguy hiểm, cho nên tui luôn luôn cầu xin cùng Đức Mẹ.

Rồi anh quay qua “giảng đạo” cho cha và anh em:

- Cha biết không? Kinh nghiệm cuộc đời tui cho thấy: làm việc gì mình cũng cần phải có ơn trên!

Đó là lần cuối tôi gặp anh Mười Tha La. Không biết bây giờ anh ở đâu?