Phương thuốc nhiệm mầu

Phàm làm người, có 4 điều khiến người ta phải ưu tư: sinh-bệnh-lão-tử. Sinh thì không phải do mình thì biết làm sao mà tránh. Tử là án phạt không biết đến lúc nào, không có ai chờ, cũng không có ai mong. Lão là chuyện sẽ xảy ra theo dòng thời gian. Còn có cái bệnh là cái nó đeo đuổi, dằn vật con người, có thể nói là suốt cuộc đời: trẻ đau, già đau, nghèo đau, giàu đau, hèn đau, sang cũng đau!

“Sinh lão tử” không thể nào tránh được thôi thì đành chấp nhận, nhưng mà còn cái bệnh, phải rán mà đương đầu! Không ít thì nhiều, không nhẹ thì nặng: đứt tay, đứt chân, trật tay lọi cẳng, nhức đầu đau bụng, … là những cái bệnh thông thường, làm sao mà không có một lần trong đời. Đau bệnh gì cũng phải lo uống thuốc. Bệnh thông thường thì vài viên Aspirine, Advil, hay Tylenol cũng xong. Ho thì uống thuốc ho, nhiều khi không thèm uống “thuốc tây”, bẻ vài lá “tần dày lá” nhai vô cũng hết ho, nhưng mà dẫu gì cũng là để lo cho hết bệnh. Những trường hợp nặng hơn như ho lao, đau tim, …, hay phải mổ xẻ thì lo thầy lo thuốc, nhiều người đã mong tìm thuốc thiệt hay tìm thầy thiệt giỏi, để bệnh mau khỏi, để đẩy ra xa cái ngày “cuối cùng” đáng sợ kia. Nói chung thì ai cũng sợ chết, dẫu rằng có người đôi lúc đã buột miệng “buồn muốn chết, tức muốn chết, mà cũng … cười muốn chết”, nhưng nói chung thì ai cũng sợ chết … gần chết.

* Bác sĩ Nguyễn M.T. là giáo sư giảng dạy môn “Y tế học đường” tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Thầy có kể câu chuyện: năm đó, thầy làm phụ tá cho Giáo sư Nguyễn Hữu trong một ca mổ tim tại bệnh viện Grall. Bệnh nhân là một bà đã ngoài 70. Tuổi tuy đã cao, nhưng bà cần được sống. Nhiều người ước mơ được như bà. Bà có ba người con trai là bác sĩ, ba người con gái có chồng là bác sĩ, dược sĩ…

Ngày đưa vào phòng mổ, các con bà đi theo bà. Bà tỏ ra bình thản. Vào bên trong phòng mổ, trong khi chuẩn bị để mọi việc được sẵn sàng trước khi giáo sư Nguyễn Hữu tới, các cô y tá khám phá ra là bà đang giấu trong tay bà một vật. Bà nắm tay lại để không ai thấy được. Một cô y tá vui vẻ nói “bác để con đưa cho con bác giữ, mổ xong sẽ đưa lại cho bác.” Bà có vẻ không bằng lòng, nhưng rồi cũng phải nghe theo. Bà không muốn rời. Bà muốn có với bà trong giờ phút hiểm nguy một nguồn trông cậy, một nguồn an ủi, một nguồn chở che. Cuộc mổ xẻ tốt đẹp. Bà được bình yên. Bà nhận lại vật bà yêu kính: xâu chuỗi lần.

* Bà này cũng là một người có phước. Bà chỉ có hai người con trai, một là giám đốc sở này sở nọ, một là giáo sư đại học. Có một lần bà đau phải vào bệnh viện, bệnh viện của nhà giàu: bệnh viện Grall. Việc chẩn đoán của các bác sĩ đưa đến kết luận là phải mỗ. Bà đau ở bụng. Nhiều cơn đau quằn quại làm cho bà xuất mồ hôi, bà rên la. Bà rất khổ sở. Con cái đau lòng! Bà phải chờ đợi đến ngày mỗ. Mỗi chiều, bà thường hay đi ra bên ngoài ngồi chơi, hóng gió. Bà thích ngồi trước hang đá Đức Mẹ của bệnh viện. Trong hai tuần chờ đợi, ngày nào bà cũng khấn vái: “Bà linh thiêng, xin Bà phù hộ cho tôi hết đau, khỏi phải mỗ. Tôi sợ mỗ lắm!”

Bà kể lại: Đêm đó, bà nằm mơ thấy cái Bà đứng ngoài núi đó đã hiện ra với bà. Bà ấy không có nói gì cả. Bà đi đến giường bà nằm, lấy tay giở tấm drap đấp trên người bà. Bà lấy tay vuốt bụng bà, rồi Bà biến mất. Để chuẩn bị cuộc giải phẩu, bà được “chụp hình” lại. Hình chụp không thấy dấu vết của căn bệnh. Các bác sĩ khám lại, bóp bụng bà. Bà không than đau như các lần trước. Bà hết đau? Bà lành bệnh? Bà được giữ lại thêm vài ngày trong bệnh viện. Bà được cho “chụp hình” lại: không bệnh! Bà được cho về. Trước khi lên xe đi về, bà đã ra núi Đức Mẹ. Bà chấp tay, cúi đầu lạy tạ Bà ở hang đá. Bà cả quyết là “Bà” này đã chữa bà lành bệnh. Bà đã van xin, và bà đã được cứu chữa . Dẫu không phải là người Công giáo, nhưng có ăn học, con cái bà giải thích cho bà biết Bà đó là ai. Bà đã cho con cái biết bà muốn theo đạo của Bà đã cứu bà. Bà đã theo đạo Công Giáo. Bà đã chết, trong những giây phút cuối cùng có xâu chuỗi lần trên tay…

***

Cũng như đối với bao nhiêu đứa trẻ có đạo khác, điều mà tôi đã học được trước tiên là làm dấu Thánh Giá. Ai tới nhà thì má tôi hay khoe bằng cách biểu tôi làm dấu, rồi ai cũng khen tôi giỏi. Cả nhà tôi đã mừng, vì kể như là tôi đã biết giữ đạo từ đó. Khi đọc “kinh hôm”, cả nhà đều có lần chuỗi mỗi tối. Mà vì một chuỗi có tới 53 kinh “Kính mừng”, mà vì một năm có tới 365 ngày, không kể những lần đọc kinh ở nhà thờ, nội ở nhà thôi, một năm tôi đã đọc 19,345 lần kinh Kính mừng, hay nói cách khác, tôi đã đọc được 19,345 kinh Kính mừng, cho nên kinh Kính mừng gẫm lại là kinh “nằm lòng” của tôi.

Thật là vô duyên nếu tôi đi dẫn giải ở đây rằng đọc kinh Kính mừng là để cầu cùng Đức Mẹ. Ai mà không biết như vậy. Rồi cầu nguyện lúc nào? Ai mà không biết: lúc buồn, lúc khổ, lúc lo, lúc sợ, lúc đau, lúc gian nan, lúc hiểm nguy, lúc sắp chết, còn sau khi chết thì người sống cầu cho người chết, cũng cầu cùng Đức Mẹ. Lúc vui, lúc sướng thì quên cầu và … chờ khi những cái “lúc” bên trên xảy đến thì ta lại cầu.

Rồi lớn lên, tôi đã được học thêm lẻ đạo. Tuy căn bản giáo lý không bằng ai nhưng tôi có niềm tự hào là tôi đã tin, tin những điều đã được học về Thiên Chúa, tin những điều Hội Thánh dạy, đến nay vẫn còn tin và đặc biệt “tin” vào Đức Mẹ, cũng như các thánh tử đạo Việt Nam…

***

Ngày 1 tháng 11 hằng năm có lễ “Các Thánh Nam Nữ”. Đó là các thánh “không xa lạ”, nhưng không “cùng quê”, dẫu biết rằng thánh nào cũng là thánh. Với tôi, và nhiều người khác, chúng ta có xa lạ gì các vị thánh như Têrêsa Giêsu Hài Đồng, Maria Goretti, Lucia, Phanxicô Xavie, Augustinô, Phaolô, Phêrô, Martin de Porres, … Nếu phải kể thêm nữa thì biết đến năm tháng nào mới hết, nhưng đến ngày 19-6-1989, “ông bà” tôi được tôn vinh là thánh, thánh tử đạo. Tôi vui mừng. Tôi hãnh diện. Tôi đi tìm hiểu lòng dạ anh hùng của ông bà tôi. Vua quan thời xưa đã thật là tàn ác. Ông bà tôi đã can đảm phi thường. Những hình phạt, chỉ đọc thôi qua các bài viết, cũng thấy rùng mình, rợn người. Tại sao ông bà đã có thể làm được như vậy? Chuyện kể:

* Hai linh mục Gia và Liêm từ trại tù ra pháp trường đã hát vang lời kinh Salve Regina (Lạy Nữ Vương) để chạy đến "Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống được vui được cậy... Xin cho chúng con được thấy Đức Giêsu con lòng Mẹ ...". Bởi vì thực ra trong thâm tâm của các vị, cuộc tử đạo quả là một hiến tế cần nhờ Mẹ làm trung gian để dâng lên Thiên Chúa, như Linh mục Théophane Vénard Ven đã ghi lại lời nguyện trong thư gửi Đức cha Theurel :

"Lạy Mẹ Vô Nhiễm, khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gươm của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé như trái nho chín được hái, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng kính trên bàn thờ. Ave-Maria".

* Linh mục Hạnh thay vì dày đạp, đã hôn kính ảnh Đức Mẹ dù bị đánh đúng 100 roi.

* Bà Lê Thị Thành tâm sự : "Nhờ ơn Đức Mẹ giúp sức, tôi không thấy đau đớn". Quân lính áp giải các nạn nhân về Gia Định. Họ phải đi suốt đêm rất cực nhọc. Bà Đê sức yếu, không chịu nổi gông quá nặng, phải có người nâng đỡ nhiều lần. Tới thành Nam bà bị giam chung với hai nữ tu. Sáu ngày sau ra trước công đường, quan tòa bắt bà chối đạo bà đáp: "Tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa, không bao giờ tôi bỏ đạo Chúa muôn đời." Các quan truyền đánh đòn bà. Lúc đầu lính đánh bằng roi, sau dùng củi lớn quật vào chân bà. Bà không nản lòng, khi chồng bà đến thăm, bà giải thích vì sao bà kiên tâm như vậy: "Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông còn không chịu nổi, nhưng tôi đã được Đức Mẹ giúp sức, nên tôi không cảm thấy đau đớn".

* Ngoài ra linh mục Schoeffler Đông trong thư, tỏ ra mừng rỡ khi biết tin mình tử đạo ngày 01-5, ngày đầu tháng hoa kính Đức Maria. Linh mục Hoan luôn đeo trên cổ áo Đức Bà cho đến giờ xử tử, ngài nói : "Ảnh này tôi không thể cho ai được. Đây là hình ảnh Đức Nữ Vương và là Bà Chúa của tôi". Linh mục Cornay Tân khi bị giam trong cũi, vẫn cất tiếng hát, lính nghe hay nên báo với quan, thế là quan bắt hát mới cho ăn, ngài kể lại trong thư rằng: "Mỗi bữa ăn tôi lại có dịp hát thánh ca chúc tụng Đức Maria".

* Sau sáu tháng giam giữ, không hy vọng gì các tù nhân đổi ý, các quan trấn Châu Đốc làm án gởi về kinh đô xin xử giảo và vua Tự Đức châu phê liền. Ngày 31-07, linh mục Phêrô Đoàn Công Quý và ông Câu Lê Văn Phụng được đưa ra pháp trường Chà Và. Cả hai vị bình tĩnh, cha Quý vừa đi vừa đọc kinh Mân Côi, còn ông Câu thì dặn dò các bạn hữu tha thứ cho những kẻ hại mình. Tại pháp trường, ông câu gặp các con mình. Ông đeo vào cổ con gái - cô Anna Nhiên - ảnh Thánh Giá và nói: “Con ơi, hãy nhận lấy kỷ vật của ba. Đây là ảnh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Ảnh này quý hơn vàng bạc bội phần. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé”.

* Cuối cùng, ngay giờ phút hành hình, các vị Tử đạo vẫn cậy nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria. Linh mục Cornay Tân cầu nguyện: "Xin Đức Maria chứng giám cho việc sám hối của con...".

* Ngày xử thánh Philipphê Phan Văn Minh. Xã Phương là người đã theo cha. Ông là người đã nộp 3 quan tiền để xin chuộc lại đầu cha. Các quan đã ưng thuận và nói: "Chỉ vua dậy đầu phải buông sông, song để cho người ta chuộc làm phước". Cha Minh trối lại cỗ tràng hạt cho ông Phương, ông đến lấy và lạy cha, các bà đạo đức cũng đến lạy cha khóc lóc làm cho kẻ ngoại cũng như quan giám sát phải ứa lệ. Cha Minh cầu nguyện to tiếng: "Lạy Mẹ, xin cầu cho con trong giờ lâm chung nguy hiểm này. Lạy Chúa, xin thương đến con cùng. Xin Chúa ban cho con mạnh sức chịu cho sáng danh Chúa".

Mẹ! Mẹ là nguồn cậy trông, là nguồn an ủi của con cái Mẹ! Mẹ là phương thuốc nhiệm mầu cứu chữa chúng con những lúc ưu buồn, những khi lo lắng, những giờ gian nguy.

Micae Nguyễn Ngọc Sáng


Chuyện về các thánh tử đạo Việt Nam được lấy từ các trang web.