Rau càng cua

Những người lớn tuổi thì không mấy ai xa lạ gì với loại rau này, nhưng với lớp trẻ thì nhiều người không những không biết tên gọi, mà còn nói đó là rau hay cỏ dại, ăn vào không chết thì cũng … có thể câm.

Khi đặt chân đến xứ này, chuyện lo “cơm gạo” là chánh nên lo đi tìm một công việc làm để có được lương hằng tháng lo cho gia đình là chuyện quan trọng, những thứ lỉnh kỉnh khác như trồng trỉa thì thoạt đầu ít người dám nghĩ tới. Sau khi đã “an cư lạc nghiệp” rồi thì nhiều người có điều kiện bắt đầu công việc mà khi ở quê nhà chưa chắc gì đã có làm, đó là trồng trọt, trồng cho vui những khi rỗi rảnh, trồng vài thứ rau cho vui cửa vui nhà, đôi lúc cũng trồng những thứ cây ăn trái.

Nhưng đặc biệt là có thứ không trồng mà lại có. Ngay cả ở quê nhà cũng rất ít người đi trồng loại này nhưng hằng năm, cứ … chờ, chờ tới mùa mưa. Sau khi trời đổ vài trận mưa thì ra vườn hay sau hè là thấy nó mọc lên. Nó có thể mọc ở trong vườn, nó có thể mọc trong các chậu kiểng to, những nơi nào có đất. Đó là rau càng cua, còn được gọi với cái tên thật “bất nhơn bất tử” là “rau chó đái”. Rồi hết mưa, nó lại “lặn” sâu xuống dưới lòng đất, ẩn mình đâu đó để đến năm sau lại nổi lên khi có mưa. Nó là một “cái” gì không biết từ đâu, đã đi sâu vào lòng đất, lúc nào ai mà có biết, rồi khi có dịp lại bừng “sống lại”, nổi mọc lên, thì khi đó ta thấy mà biết được là nó có.

Đi qua xứ người, không mấy người “nhớ” tới nó, nhưng khi thấy nó rồi tự nhiên sực nhớ lại quê hương. Thật ra khi còn ở quê nhà không mấy ai ra công trồng nó. Có thì ăn, không có thì thôi, hơn nữa, ở các thành phố thì dễ gì có được miếng đất để trồng này trồng kia. Mà trồng gì thì trồng chớ ai đời lại đi trồng rau càng cua!

***

Đó là công việc thường xuyên của anh em chúng tôi: đi thăm viếng bệnh nhân. Đó là công việc tầm thường, bình thường mà hễ lâu không làm cũng thấy nhớ, làm riết trở nên … ghiền. Vì nó gần như định kỳ: xong lễ ngày Chúa nhật là đi đem Mình Chúa đến cho các vị không đi được đến nhà thờ. Gia đình nào có người “cần”, xin cứ liên lạc với văn phòng giáo xứ rồi chúng tôi sẽ được thông báo và chúng tôi sẽ “lên đường”.

Đó là chuyện “đem Mình Chúa”, còn có việc khác là đi thăm viếng bệnh nhân, thăm tại nhà, thăm tại bệnh viện. Cả hai việc đều liên hệ đến người bệnh, vì nếu không bệnh thì đâu có ai cần người giúp đỡ hay đến thăm. Nhưng những lúc “cần kíp”, thì có cha đi vì có công việc chỉ có cha là làm được, còn chúng tôi thì không làm được.

Đem “Mình Chúa” là việc làm ngày Chúa nhật. Những ngày khác trong tuần, chúng tôi cũng có ngày đi thăm bà con. Ngày thường, khi nhận được tin đi đâu đó là những khi có chuyện bất bình thường.

***

Hôm đó như thông lệ, chúng tôi vào thăm bà con quen biết và không quen biết ở bệnh viện của thành phố. Sau khi đã thăm xong tất cả các người có tên trong danh sách, trên đường về gặp cô y tá, cô hỏi có ghé qua phòng (x) chưa, ở đó có bệnh nhân người Việt. Thế là chúng tôi ghi thêm vào danh sách trạm cuối của “ngày thăm viếng bệnh nhân” hôm nay.

Vào phòng thăm thì thấy anh đang nằm trên giường, có vẻ mệt mỏi. Thấy chúng tôi bước vào, anh cố nhướn mắt lên để nhìn và chào khách. Người trong nhóm tôi lên tiếng:

- Chào anh, chào chị!

Anh đáp trả một cách yếu ớt:

- Chào các anh!

- Được biết anh nằm ở đây, chúng tôi ghé thăm anh, và cầu chúc anh được mau mạnh.

Anh tỏ vẻ thích và mừng lắm:

- Tôi rất là sung sướng được các anh tới thăm.

Vợ anh nối lời:

- Cám ơn các anh! Xin lỗi các anh là ..

Chị có vẻ ngập ngừng nên khi chưa kịp dứt câu thì một người trong nhóm chúng tôi trả lời:

- Chúng tôi là những người Công Giáo thuộc giáo xứ Việt Nam ở đây. Hằng tuần chúng tôi đi thăm bà con đau nằm ở bệnh viện, có việc gì giúp được thì chúng tôi giúp.

Nghe đến đây, chúng tôi nhanh chóng ghi nhận hai thái độ khác nhau ở vợ chồng anh. Chị nghe và không có một chút thay đổi trên gương mặt. Chị tỏ ra bình thường, mà bình thường thì cũng phải vì người Việt gặp nhau mà chào hỏi nhau không phải là chuyện lạ lùng đến phải quan tâm. Người Việt gặp nhau mà ngó lơ thì cũng là chuyện bình thường, nhưng ở đây một nhóm người Việt đi tìm thăm người Việt bệnh nằm ở bệnh viện, mà đó là chuyện bình thường của chúng tôi.

Chúng tôi liếc nhanh nhìn anh. Anh không nói gì nhưng nét mặt cho thấy anh có biểu lộ một cái gì. Anh có vẻ như giật mình khi được biết chúng tôi là ai, từ đâu đến. Anh đảo mắt nhìn hết mọi người chúng tôi. Anh hơi dừng lại nơi cha phó đang đứng phía sau, có lẽ do cách ăn mặc “khác thường” của cha: áo sơ-mi đen lại có “khoan” cổ trắng. Chúng tôi mới đẩy cha ra trước và giới thiệu:

- Đây là cha phó của giáo xứ chúng tôi. Cha thường xuyên đi với chúng tôi, để khi có ai cần đến phép đạo thì cha lo. Phần đó chúng tôi không lo được.

Nghe đến đây, anh cười và chúng tôi cũng cười. Cha bước tới phía trước để chào anh. Cha đưa tay bắt tay anh. Anh có vẻ như e ngại đến ngượng ngùng, không có thái độ giống như khi đàn ông gặp đàn ông. Vợ anh xen vô:

- Ông nhà tôi vào đây được hai hôm rồi, và ngày mai thì sẽ lên bàn mỗ.

Sau khi hỏi thăm để biết thêm về bệnh tình của anh, một anh đại diện lên tiếng xin phép:

- Xin phép anh chị để cho chúng tôi cầu nguyện cùng Chúa và Đức Mẹ cho anh được mau lành bệnh.

Nói xong, ba người chúng tôi nắm lấy tay nhau, nối vòng tay với người bệnh đang nằm trên giường và với vợ anh. Tất cả yên lặng, cúi đầu. Sau một lúc thinh lặng, nguyện thầm, một người nói lên ý nguyện của mọi người: người bệnh muốn được lành bệnh, người thân trong gia đình muốn người thân được khỏe lại, và của những người thăm bệnh mong muốn Chúa thương ban ơn chữa lành hồn xác, theo thánh ý Chúa. Sau lời nguyện, tất cả chúng tôi cùng nhau đọc kinh “Lạy Cha” để xin ơn Chúa Cả trên trời.

Kinh đọc xong, chúng tôi buông tay nhau ra. Vợ anh có vẻ ngạc nhiên vì thấy lạ, nên cứ mở miệng cám ơn “quý anh đến thăm và cầu nguyện cho anh ấy.” Anh vẫn nằm im như khi chúng tôi nguyện thầm và đọc kinh. Có lẻ anh cảm động nhiều lắm nên tuy anh không nói nhưng có những giọt nước nơi khóe mắt anh. Thấy cuộc viếng thăm cũng đã tạm đủ, chúng tôi kiếu từ, ra về.

***

Cô y tá làm ở bệnh viện mà chúng tôi quen biết là ngưòi ở … nhà thờ. Thường khi, chị nắm danh sách những bệnh nhân người Việt vào ở bệnh viện nơi chị làm, rồi báo lại cho chúng tôi. Mỗi ngày, sau giờ làm việc, trước khi ra về, chị thường ghé vào thăm những bệnh nhân người Việt, rồi khi có gì cần, chị thông báo cho chúng tôi.

Lần này, gặp nhau ở nhà thờ, chị cho chúng tôi biết là “anh” đã mỗ xong, thành công, còn đang điều trị chờ ngày về. Chị có vào thăm và vợ chồng ta cứ nhắc đến “các anh”, và … khen lắm. Không phải vì nghe có “tiếng khen” nhưng khi nhớ lại thái độ lạ của anh khi chúng tôi đọc kinh cầu nguyện cho anh, chúng tôi lại hẹn để vào thăm anh.

Chúng tôi không ngờ là việc chúng tôi đến thăm anh trước khi anh lên bàn mỗ lại có tác dụng đặc biệt to lớn như vậy. Anh đã có dịp nghe lại “kinh kệ”, tuy chẳng có bao nhiêu và tuy đã không đọc theo nhưng đã làm cho anh nhớ lại. Chúng tôi nghĩ việc chúng tôi đến thăm và đọc kinh cầu nguyện cho anh đã như là trận mưa rào làm cho mầm móng đức tin đã chìm sâu trong anh có dịp bừng sống trở lại.

Vừa thấy chúng tôi bước vào phòng, anh còn nằm trên giường đã “to tiếng”:

- Chào các anh!

Chúng tôi đáp lại:

- Chào mừng anh đã khỏe lại!

Chị vợ vội chen vào:

- Cám ơn các anh rất nhiều, hôm rồi sau khi các anh ra về, nhà tôi đã thay đổi rất nhiều. Trên đường được đưa đi tới phòng mỗ, anh nắm tay tôi và biểu tôi cầu nguyện. Tôi có biết cầu nguyện là gì đâu, nhưng tôi đã van vái, cầu xin cho anh được bình yên.

Nói tới đây, chị khóc. Không biết chị khóc vì mừng chồng được mạnh khoẻ lại, hay khóc vì biết được chồng “trở lại”.

- Hồi đó giờ anh có nói gì đâu. Gặp nhau rồi, hai chúng tôi cứ lo đi làm kiếm tiền nuôi con, trả tiền nhà tiền cửa. Cuối tuần thì lo nghỉ cho khoẻ, lo dọn dẹp nhà cửa, không hề nghe anh ấy nói gì tới chuyện anh là người có đạo.

- Rồi bây giờ chị nghĩ sao?

- Nghĩ gì nữa? Ảnh có đạo thì phải giữ đạo chớ còn nghĩ gì nữa!

- Còn chị?

- Thì chồng nào vợ nấy, chồng đạo nào vợ đạo nấy chớ còn nghĩ gì nữa …

Nghe qua những câu đối đáp đó, anh lên tiếng:

- Các anh biết không, tôi là người có đạo Công Giáo, đã rửa tội hồi còn ở Việt Nam, nhưng qua đây rồi, mệt mỏi với công ăn việc làm tôi … quên luôn.

Chúng tôi chận liền:

- Giờ thì anh hãy nhớ lại đi! Anh về rồi, cho địa chỉ chúng tôi xin sẽ hẹn đến thăm anh và đưa anh đi trở lại nhà thờ. Anh có vẻ trầm ngâm:

- Thật là may mắn cho tôi. Tôi không bao giờ quên rằng tôi là người có đạo, nhưng để giữ đạo đi lại nhà thờ thì … chưa có dịp. Việc các anh ghé thăm và đọc kinh cầu nguyện cho tôi làm cho tôi nhớ lại. Hôm đó khi các anh đọc kinh “Lạy Cha” tôi có đọc theo đó chớ. Tôi cũng còn nhớ.

Thăm anh xong, trên đường về chúng tôi bàn với nhau: đức tin đã ăn rễ trong anh như rau càng cua đã có mầm móng trong lòng đất, nay chỉ cần có mưa xuống là rau sẽ mọc lên. Một vài việc làm nho nhỏ như viếng thăm sẽ tác động như mưa để làm cho hạt giống đức tin bừng sống lại …