Sợ không đủ!

Chuyện đủ thiếu, ông bà mình có câu nói: ở đời không biết bao nhiêu là đủ, bao nhiêu là thiếu. Có được một, người ta muốn có hai; rồi có hai lại muốn có ba, có bốn, riết rồi đi tới chuyện không biết bao nhiêu mà là đủ. Khổ nổi, chuyện thiếu cũng vậy, khi thiếu một rồi lại thiếu hai rồi dần dần thiếu thêm hoài nên ông bà ta lại cũng có câu nói: nợ đẻ nợ. Có, người ta muốn có thêm thì không đủ. Thiếu, người ta sợ thiếu nhiều, không muốn thiếu thêm, muốn thiếu như vậy là đủ rồi thì thiếu lại cũng không ngừng. Ở đời, gẫm ra thiếu đủ gì cũng không đủ!

***

Gẫm chuyện này, tôi nhớ tới chú. Đối với tôi, chú là người lớp lớn, bởi vậy tôi mới gọi là chú. Nhưng ngược lại đối với với ba tôi thì chú là người lớp nhỏ, đáng tuổi em của ba tôi, nên tôi mới gọi là chú. Nhớ lại vào thời xưa, người ta kỵ cái việc kêu tên, cứ theo thứ trong gia đình mà gọi: anh hai, chị ba, rồi sau thứ mười, kêu mười một thì thấy tên nó dài, nên nhiều khi người ta chỉ gọi ngắn gọn là “một” để chỉ mười một, còn tới mười rồi mà thấy còn nữa thì gọi là mười lớn, mười nhỏ, còn thêm thì gọi là … mười nữa. Muốn biết rõ tên họ thì phải chờ tới ngày … chết, cha tra sổ họ rồi nói ra thì mình biết được tên thật. Cũng theo quan niệm này của người xưa, mà tôi biết và gọi chú là chú tư.

Rồi cái chuyện đời nữa là ngoài cách kêu “thứ”, nhiều khi để phân biệt hai ba người cùng thứ, người ta lại dùng cái “tật” để gọi như ở xứ tôi có mấy cái tên rất là gợi hình: tư ốm, mười ù, bảy lé, ba lùn, tư cao, tư cà thọt, tư ròm … Chú tư của tôi đây là chú tư ốm. Nếu muốn hiểu được nghĩa của chữ “ốm”, tôi nghĩ, có dịp mà ngắm chú thì sẽ hiểu thế nào là “ốm.” Ốm hay mập gì thì tôi cũng chỉ gọi một cách đơn sơ là chú tư.

Theo tình đời, thường hễ nghe tới chữ ốm, thì người ta nghĩ ngay tới chữ nghèo: bởi nghèo cho nên ốm, còn ốm thì tại do nghèo. Nhưng trường hợp của chú tư, hai chữ ốm-nghèo không thể đi đôi được. Chú thuộc loại gia đình giàu, ba má chú giàu, tới chú cũng giàu. Anh chị em chú cũng đều giàu, mà những người ấy thì lại không ốm.

Tôi nghĩ là chú phải có cái tên chớ, nhưng làm sao mà dám hỏi, mà cũng không cần hỏi, bởi khi gọi “chú tư” một cái là chú biết liền, nên tôi đã không biết được cái tên chú cho đến ngày mà tôi cảm thấy thắm thía thêm bởi nỗi buồn chia cách. Tôi còn nhớ ngày ba tôi chết, do tình lối xóm, tình anh em với ba tôi, chú đã lo nhiều việc như dọn dẹp chỗ ba tôi nằm, phụ cưa ván để đóng hòm, lo tẩn liệm, chôn cất. Đó là lần đầu tôi biết nghĩa chữ buồn.

Sau khi chú cưới vợ, được hai ba năm gì đó thì vợ chú chết. Chú ở vậy, một mình, “có cha có mẹ.” Nghe nói hồi xưa, chú đâu có ốm, nhưng sau khi vợ chết, chú buồn rồi ốm. Cũng do buồn, chú “lơi” chuyện nhà thờ. Lớn rồi, ba má chú chỉ khuyên chớ đâu có còn rầy như khi còn nhỏ, rồi cũng quen đi, ông bà quên chuyện rầy rà, chú thì quên chuyện đi nhà thờ. Chú kết thân với ba tôi để làm bạn, rồi ba tôi chết, chú chơi với tôi cho có bạn. Mỗi ngày, sau khi đi học về, ăn cơm xong là tôi chạy qua nhà chú để chú chỉ cho tôi học. Chú thích làm như vậy lắm, có lẻ là để có người nói chuyện. Bài làm tiếng Pháp thì kể như chú ăn trùm. Bài làm trong lớp thì tôi ít điểm chớ bài làm ở nhà thì kể như tôi ăn bứt mấy đứa bạn. Còn làm toán thì mỗi khi làm “giúp tôi”, chú làm bằng tiếng Pháp. Làm toán nhơn, tôi nói “2 lần 3 là 6” thì chú lại nói “deux fois trois font six” nghe thật tức cười.

Ngày qua tháng lại, tôi chưa lớn lên hẳn nhưng tôi vẫn nhớ. Tôi còn nhớ như in trong trí rằng hôm đó là ngày thứ hai. Như thường lệ, đi học về, cơm nước xong tôi đi qua chú. Ba má chú có mặt trong căn phòng của chú. Chú cười với tôi nhưng đưa tay như muốn chận không cho tôi vô phòng. Tôi đứng xớ rớ ở cửa được một lúc thì nghe ba chú nói:

- Để ba rước cha cho con nghe?

Chú gật đầu. Nghe tiếng rước cha, tôi xung phong đi thì được mọi người đồng ý. Tôi chạy một mạch lên nhà thờ, đến nhà cha và thưa với cha chuyện tôi thấy. Cha hối hả đi. Tôi phải chạy lúp xúp theo để kịp bước cha. Nhưng khi tới nhà, tôi chạy vào trước. Thấy tôi về, chú nhìn tôi, có vẻ vui. Cha vào phòng chú. Mọi người được yêu cầu đi ra ngoài. Hôm sau, đi học về xong xuôi, tôi cũng lại qua nhà chú. Chú muốn, tôi lại chạy đi mời cha. Chắc là tự thấy mình mấy năm bê trễ, chắc là sợ không đủ để được Chúa thứ tha, chú cứ muốn có cha đến với chú để giúp chú lo việc linh hồn. Cũng không bao lâu, sáng thứ sáu thì chú mất.

Đến cầu lễ, nghe mấy người lớn nói chuyện mới biết: chú rất sùng mộ Thánh Tâm Chúa nên nay chú chết ngày thứ sáu, ngày kính Trái Tim:

- Thằng thiệt có phước, ông trùm họ đạo tôi nói. Nó sùng kính Trái Tim Chúa nên nó được Chúa rước vào ngày thứ sáu!

Ngồi đọc kinh cho chú, nhìn lên đầu hòm, lần đầu tôi biết tên chú: Phêrô Hiền. Lần thứ hai trong đời tôi biết nghĩa của chữ buồn.

***
Chuyện xưa qua rồi, nay nói chuyện nay. Chuyện của ngày nay khi tôi “lớn khôn rồi” thì chuyện sợ không đủ làm cho tôi thấy rõ nghĩa và lại cảm thấy băn khoăn. Tháng 6 vừa qua khi có dịp đi hành hương thánh địa Giêrusalem, tôi có hứa. Mà một khi đã có hứa rồi là mình có nhiệm vụ phải lo làm tròn lời hứa. Việc hứa này cũng không có gì nặng nề, khi mà chỉ có hứa “cầu nguyện giúp”. Những người nhờ chỉ nói câu đơn giản là: bác nhớ cầu nguyện cho con. Người nhờ không có nói là cầu nguyện cái gì nhưng phần đông có ý muốn được cầu “nơi mộ Chúa”. Cũng không khó, chỉ cầu nguyện giúp tại mộ Chúa thôi thì công việc cũng nhẹ nhàng. Nhưng để cho chắc ăn, lòng dặn lòng, tới đâu tôi cũng cầu để rủi có không đủ ở nơi này thì lấy ở chỗ kia bù lại. Đâu có biết ý chỉ cầu nguyện là gì nên việc làm cho trọn lời hứa lại càng dễ dàng hơn, vì câu cầu sẽ ngắn hơn, chỉ cần đọc tên những người nhờ cầu nguyện là tròn công.

Những ai đã đi viếng thánh địa rồi chắc cũng nhớ lại việc này: đến nơi, người hành hương đâu có phải dễ dàng mà cầu nguyện. Người đông đúc, chỗ chật hẹp, người sau ủi người trước, người trước ủi người sau, lấn qua lấn lại mà trong đầu luôn luôn bị ám ảnh bởi những dặn dò: “coi chừng bị móc túi” nên chân thì lo lết lết tới, thân thì ngả qua ngả lại, tay lo ôm máy chụp hình, miệng lo khấn thầm: lạy Chúa, xin Chúa nhậm lời con cầu theo ý những người nhờ con. Xin Chúa phù hộ cho cha Antôn Dũng dòng Chúa Cứu Thế, cha Phaolô Bình dòng Phanxicô ở Việt Nam đang du học ở Mỹ, cho vợ con, cho ba đứa con, hai đứa dâu rễ, hai đứa cháu nội cháu ngoại, cho những người nhờ con cầu nguyện cho: bà Mỹ, bà Tuyết, bà Hoa, thằng Linh, thằng Hoàng. Nhờ ít quen biết nên người nhờ cũng chẳng có bao nhiêu, danh sách có bấy nhiêu đó thôi, không có dài vậy mà vừa bước ra khỏi mộ Chúa xong là đã thấy áy náy trong lòng, không biết đủ chưa, không biết có thiếu ai không.

Khu mộ Chúa nó có chút xíu, mỗi lượt vào là 10 người. Người ta không hối nhưng làm như qui định, người ta sao mình vậy: vừa đi vừa cầu, vừa sờ các bàn, vách đá, đi xong một vòng là lo đi trở ra. Bên trong hơi tối, chỉ sáng lờ mờ. Vừa mới chun vô là bắt đầu lo khấn: “Lạy Chúa xin Chúa” là đã bị đẩy đi tới một bước, “phù hộ cho cha Dũng dòng”, lại bị đẩy đi tới một bước, “Chúa Cứu Thế, cha Phaolô Bình dòng Phan”, lại thêm một bước, “xicô ở Việt Nam đang du học ở Mỹ”, đi thêm bước nữa… Tôi ráng trì người lại để đi chậm hơn, để đọc được lâu hơn và khi vừa hết “những ai nhờ con cầu nguyện cho” là phải lo khom đầu để bước ra khỏi nơi “mộ Chúa”, để cho những người khác tiếp tục vào kính viếng.

Về tới nhà rồi mà cứ thấy áy náy trong lòng, không biết có xin ơn đủ chưa, có thiếu sót tên ai không. Xin đủ cho những người nhờ mình mà không xin cho vợ con trong gia đình thì uổng, mà xin đủ cho người trong gia đình mà không xin cho những người nhờ mình thì cũng bậy quá! Việc đi trở lại những nơi thánh đó thì làm sao dám nghĩ tới! Nên thôi: “Lạy Chúa, xin cho con đã cầu đủ!” Rồi lại ngẫm, trong chuyện khác còn lại ở đời: để cho đủ, ta nên cứ đọc kinh hoài, cứ xin tới, rồi tạ ơn, và cứ thế cứ tiếp tục bởi biết bao nhiêu là đủ, bao nhiêu là thiếu.