Sống Sao Cho

Ở đời, thương người ta nhớ, mà ghét cũng nhớ. Mà đời thì mênh mông quá, ta hãy cứ thu hẹp lại trong phạm vi của họ đạo, nơi mà nhiều người trong chúng ta có nhiều "nhung nhớ, kỷ niệm". Kỷ niệm đầu tiên là ngày rửa tội, nào có biết gì đâu nhưng được cha mẹ nói lại cho nghe. Những ngày như Rước Lễ lần đầu, Thêm Sức thì đôi khi cũng biết được nhờ gia đình có lưu lại với đôi ba tấm hình. Hình ảnh hồi xưa ít có được nên còn "lưu lại" là người vú bỏ đỡ đầu, đánh dấu việc "xức trán" (cách gọi ngày xưa của việc chịu phép Thêm Sức).

Đó là việc nhớ lại chuyện xưa. Khi nhớ tới chuyện xưa thì ở họ đạo, đứng đầu là cha sở. Cha sở thì ai lại không có, hết cha này tới cha khác. Ở các giáo xứ thì gọi là cha chánh xứ. Ở các họ đạo thì kêu là cha sở. Đôi khi còn có cha phó xứ hay cha phó. Họ đạo tôi thời đó không đủ lớn để có cha phó, nên mỗi khi nói tới cha, tôi nghĩ ngay đến cha sở, mà nếu không có cha phó thì làm gì có cha sở, nên cứ gọi là cha. Cha vẫn cứ đến rồi đi. Tôi thì vẫn cứ ở đây, lớn lên. Vậy mà, tuy không có làm công việc ghi chép, tôi cứ vẫn nhớ, hết cha này tới cha khác. Cái điều "lạ" là họ đạo luôn luôn có cha. Có vắng thì cũng năm bảy ngày khi mà cha mới chưa kịp tới. Cha mới cha cũ gì thì cũng là có cha.

Cha sở đến ở một nơi một thời gian rồi cha lại đi. Cha đi rồi, cha khác lại đến:
- Đời linh mục mà, cứ theo lệnh bề trên rày đây mai đó.
Nghe cha nói mà thấy "thảm". Khốn nỗi là khi các cha đã ở đâu đó được một thời gian, "quen chân quen tay" rồi bề trên lại đổi đi thì cũng khiến cho giáo dân buồn. Năm đó, sáng sớm cha sở họ đạo tôi sau khi từ giả bà con, cha lên xe ngựa đi ra bến Rạch Dừa để xuống tàu đi về Sài Gòn, để rồi sẽ đi xứ khác. Chúng tôi đi theo cha đến cầu tàu, phụ khiêng mấy cái rương của cha xuống tàu. Chúng tôi trở lên đứng trên bờ nhìn xuống. Cha đứng dưới tàu nhìn lên. Còi tàu hụ. Sau ba lần hụ, tàu rời bến. Cha đi, thân "bèo giạt mây trôi" lại tiếp tục nổi trôi. Chúng tôi ở lại.

***

Nói vậy chớ, sau khi cha đã đổi đi họ đạo khác rồi, có cha, bà con xứ tôi cứ nhớ, nhắc tới hoài. Nhắc tới cái gì? Thì những chuyện cha đã làm khi cha ở đây, những điều cha đã dạy, nhất là cách xử sự của cha. Mà nói tới những điều cha dạy, có người hỏi ngược lại:
- Thì cha nào lại không vậy? Cha nào cũng giảng theo "Sách Thánh", chớ có cha nào giảng cái gì khác đâu!
Hay, hay! Nhưng có người lại nói:
- Anh nói vậy chớ ngoai việc cha giảng dạy trong nhà thờ, điêu quan trọng là cha còn "giảng" bằng lôi sống của cha.

Ở xứ khác thì sao không biết chớ ở họ đạo tôi, người ta chú ý từng ly từng tí, từng lời ăn tiếng nói của cha trong bài giảng đầu tiên khi cha mới tới nhận họ đạo.

Ngày cha mới đến là ngày bà con náo nức đến nhà thờ để "coi mắt" cha. Tất cả những danh từ có trong tiếng Việt gần như hầu hết được bà con đem ra để nhận định: trắng đen, mập ốm, cao lùn, mang kính không mang kính ... mà tôi còn nhớ, bà con lớn tuổi "phê":
- Cha sở mới của mình kỳ này ngon nha!
- Ngon cái gì mà ngon! Bộ ăn thịt được cha sao mà anh nói ngon?
- Ngon là tôi muốn nói kỳ này Đức Cha bổ tới họ đạo mình ông cha ngon lành!
- Làm sao mà anh biết ngon lành? Phải chờ mới biết.
Rồi như để nói cho rõ thêm, ông ta nói chữ:
- Anh em nên nhớ "trường đồ tri mã lực" mà!
Dĩ nhiên rồi, cái gì cũng phải chờ, chờ mới biết được.

***

Họ đạo tôi hồi đó, quới chức toàn là mấy ông lớn tuổị Nhiều ông còn ... "búi tóc". Ông trùm nhứt được gọi là ông "trùm trầu", vì ông có tật ăn trầu. Ông là người già nhất họ đạo mà cũng là người già nhất xứ. Tuy già vậy mà ông luôn đi lễ mỗi ngày, "mười bữa chẳn chục". Không bao giờ ông bỏ lễ nghĩa là không có đi lễ sáng. Nhiều người đã bậy miệng nói:
- Không biết bao giờ ông trù, mới ...
Chưa hết câu đã bị chận:
- Ổng mới chết.
- Nói tầm bậy! Bộ hết chuyện trông sao mà trông ổng chết?
Phản ứng liền:
- Tui không trông ổng chết mà tui lại sợ ngày đó đến. Vì anh em thấy không, ổng là gương mẫu đạo đức trong họ mình. Ông già thiệt...
- Thiệt cái gì? Vậy còn anh thấy cha sở mình sao?
- Tui nễ nang ông trùm nhứt của mình, giờ mình lại có thêm cha sở, giống y chang ông trùm.

***

Cha sở họ đạo tôi, thiệt đúng là ... ông cha. Việc cha làm lễ mỗi ngày, tôi không dám dành nhưng mà các việc khác...

Thời đó chỉ có lễ vào buổi sáng chớ không có lễ buổi chiều. Buổi chiều, trước khi ăn cơm, cha đi. Hơi xế xế, cha đi, đi vòng vòng, xong nhà này qua tới nhà khác. Đâu cha cũng ghé năm ba phút để thăm bà con. Về họ mới có mấy tháng mà hỏi ai, cha cũng biết. Hỏi cha, ai cũng biết, người có đạo cả người không có đạo. Đi ngang nhà ai, thấy có bàn thờ Chúa là cha ghé vô. Hỏi thăm ba điều bốn chuyện xong là cha xách nón đi ra.

Quanh năm suốt tháng, lễ lạc cứ tiếp nối. Như dịp tháng 8 sắp tới có lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, bà con lo dọn lễ. Người ta lo dọn trụ cờ để treo cờ Đức Mẹ, chuẩn bị cuộc kiệu lớn. Người ta thấy rất cảm động những khi làm lao động như vậy, cha cũng ra, vén áo dòng để làm phụ. Những khi đó, cha bị "rầy" quá. Tức chí, cha phản đối:
- Anh em làm được, cha cũng làm được.

Nói gì nói, cha cũng bị cấm. Bị cấm, bị "rầy" vậy mà cha không ấm ức. Cha làm chuyện khác. Cha lo đi làm nước đá chanh cho anh em uống. Cha lẻo đẻo đi theo đám này, đám khác để tiếp tế. Anh em lại nói:
- Cha sở mình thiệt!
Có người bênh cha lại nói:
- Thiệt giả gì!

Không phải vậy thôi, mỗi khi trong họ có người qua đời, công việc riêng của cha là lo xức dầu cho người sắp chết là đương nhiên rồi. Trong khi quan tài còn được đặt tại nhà, đêm nào cha cũng tới để cầu lễ, rồi cha ở lại với nhà tang để chia buồn. Làm lễ tại nhà thờ rồi đi theo quan tài ra nghĩa trang thì thường tình rồi. Khi chôn cất xong, đến nhà tang để cầu lễ cho người vừa mới qua đời theo tục lệ xưa, 7 ngày cho nam và 9 ngày cho nữ, cha cũng có mặt. Cha nói:
- Mình ráng có mặt để làm cho gia đình thấy ấm lòng.

Năm đó, không còn nhớ được năm nào, có lụt. Xứ tôi có một xóm gọi là Xóm Lưới. Những người trong xóm này là những người chuyên sống về nghề chài lưới. Trong xóm, có những giàn cao để người ta phơi lưới. Xóm ở ven sông nên thường bị ngập nước những khi nước lớn. Nói như vậy có nghĩa là, tháng nào cũng có nước lớn nước ròng nên tháng nào cũng có nước nập. Nước lớn rồi nước lại ròng, nên nước dâng lên rồi nước lại rút xuống. Cứ như vậy nên nhà cửa của bà con trong xóm này thườmg là nhà sàn, cao cẳng.

Đã mấy hôm rồi, năm đó, trời mưa tầm tả. Mưa liên tục năm bảy ngày nên nước cứ dâng lên cao mà không thấy rút xuống. Nhờ ở nhà sàn nên bà con không bị hại, nhưng cứ phải ở trong nhà. Nhưng vấn đề là nước đọng lại trong nhiều ngày nên sau khi nước rút, lầy lội, dơ bẩn. Nhà nào cũng bị. Mạnh ai nấy lo. Tự lo cho mình, lo không xuể. Đánh hơi được công việc, sáng lễ xong, điểm tâm xong, cha đi tới khu bị ngập lụt. Cũng nên nhớ là thời xưa đó không bao giờ thấy các cha mặc "đồ ngắn", cứ luôn mặc áo dòng. Cha sở tôi cũng ậy. Cha xắn áo dòng lên, chỉ mặc cái quần dài đen bên trong.

Đến nơi, không có giờ để chào hỏi, cha bắt tay vào việc. Không cần biết căn nhà này là của ai, Công Giáo hay không Công Giáo, cha "nhào" vô lo phụ khiêng đồ đạc, quét dọn. Mấy bà con người Công Giáo thì biết cha, họ nhăn mặt, tội nghiệp cha. Họ nói "thấy thương đứt ruột". Mấy bà con không phải Công Giáo thì ngạc nhiên quá sức, họ nói "ông cha thiệt ..."""

Lần nào cha đi làm những việc đó, thường có tôi đi theo nên tôi mới biết được chuyện. Vậy mà năm đó, cha "đi" mà tôi chưa đi theo nên tôi còn đây, kể lại chuyện này. Thiệt đúng như lời bàn của mấy người lớn tuổi ở họ đạo tôi: giảng dạy thì cha nào cũng dựa theo "Sách Thánh" mà dạy, còn việc sống thì mỗi người một cách, mỗi cha một cách, tánh ý khác nhau. Cách sống của cha là một phương tiện hùng hồn để rao truyền lời Chúa.