Sương hòa bình

Hai chữ hòa bình nói ở đây không phải là “hòa bình” mà nhiều người đang tìm kiếm, mà mọi người ước mong có được, mà mọi người trên thế giới đang ngóng trông. Hai chữ “hòa bình” ở đây được dùng để phân biệt một người với một người.

Số là trong họ đạo tôi có hai người tên Sương. Nói là hai chớ biết đâu có thể cũng còn có vài người khác nữa tên Sương, nhưng kể ra có hai vì hai ông anh này được nhiều người biết, vì hai anh là người có tham gia, tham gia vào họ đạo. Mà theo tình đời, hễ có tham gia là có người biết tới.

Mà cũng theo tình đời, hai người thì dứt khoát là hai tánh ý khác nhau, bởi nếu tánh ý mà giống nhau thì có chuyện gì đâu mà nói. Bởi vậy, người ta ví hai anh như mặt trời với mặt trăng. Anh thì ăn nói điềm đạm, từ tốn, từ từ. Anh thì ăn nói ào ào, to tiếng.

Nội cái việc đội nón cũng là một điểm để bà con có thể phân biệt được hai anh này. Một anh đi đâu cũng có cái nón nỉ trên đầu. Cái nón này theo như anh kể cũng có nhiều kỷ niệm. Hồi xưa thời anh đi tu ở nhà trường la tinh, anh em chủng sinh đi đâu cũng có đội cái nón nỉ màu đen. Sau khi rời khỏi nhà tu nơi mà theo anh, có nhiều kỷ niệm êm đềm, để nhớ lại, đi đâu anh cũng đội cái nón nỉ.

Một điều khác mà anh không dám giữ, đó là thời anh còn ở trong nhà trường la tinh, đi đâu anh em chủng sinh cũng mặc áo dài đen mà anh ta nói, thời buổi này mà đi đâu tui cũng mặc cái áo dài đen thì có quỷ mà coi! Cho nên, bây giờ đi đâu anh cũng mặc “đồ tây”, đến nơi lấy nón ôm vô tay, chào hỏi mọi người.

Nhưng anh kia thì khác, đi đâu anh cũng để đầu trần dẫu cho là mưa hay nắng. Anh rất tự nhiên, rất thiệt tình. Vừa ý, anh nói theo vừa ý. Không vừa ý, anh nói theo không vừa ý nên nhiều khi anh bị coi là chống đối. Vừa ý hay không vừa ý gì thì anh cũng nói theo một cung cách, không kiêng nể, nơi nào có anh đến thì nơi đó có tiếng oang oang. Tiếng nói của anh nghe nó xôm cửa xôm nhà, đôi lúc làm cho người ta bực mình nhưng nào anh có biết, và anh cũng thường hay quên đi, không cần biết. Như có lần đang sắp sửa họp, tất cả ngưng nói để cha xướng kinh bắt đầu, nhưng anh vẫn còn và cứ hăng say … nói, mà lại nói to!!

***

Gốc gác hai người cũng khác nhau. Một anh thì ông cha bao nhiêu đời sinh sống tại đây. Anh thường hay tự hào: nhà thờ này có bàn tay của ông cố, ông nội tôi phụ làm. Có người hỏi khó: mà anh có làm không? Anh trả lời:

- Tui hồi đó còn nhỏ xíu mà làm cái gì được! Ba tui còn không có làm nữa nói gì tui! Nhà thờ này có cả trăm năm rồi chớ ít sao.

Nói cách khác, anh là người địa phương và là người cố cựu, cho nên anh có thể biết nhiều chuyện về họ đạo kỳ cựu này của vùng Sài Gòn. Anh là người mà nhiều người quen biết, nhờ gốc gác của anh, nhờ sự có mặt gần như trong tất cả các cuộc lễ trong họ. Lễ đạo, có anh. Lễ vui như các đám cưới, có anh vì nhiều người quen biết anh. Lễ buồn như các đám tang, có anh vì anh quen biết nhiều người. Anh được coi như là một người bà con, bà con trong họ đạo. Làm gì làm, khi biết tin, anh phải đến, đến để tỏ chút tình. Anh ở gần nhà đèn Chợ Quán lại làm việc ở đó nên nói tới anh, người ta gọi anh là “Sương nhà đèn”.

Còn anh kia, anh là người từ phương xa tới. Anh là con buôn từ miệt Bến Tre, chuyên chở trái cây lên Sài Gòn bán, thoạt đầu ở “nhà ghe”, sau đóng cừ đổ gạch đất, biến nơi đậu ghe thành ngôi nhà, nhà ở ven sông, dọc theo bến Hàm Tử. Rồi sau khi đã anh biến chỗ đậu ghe thành ngôi nhà, anh gia nhập và trở thành con dân họ đạo Chợ Quán luôn. Có cái điều là anh về đây từ hồi nào, anh còn không nhớ rõ thì kể gì người ta. Anh cứ nói:

- Mỗi lần neo ghe ở đây là tui đi lễ ở đây. Tui nhớ cha sở đầu tiên mà tui tới chào là cha bề trên Khâm.

- Vậy là anh ở đây lâu lắm rồi.

- Chớ sao! Tui thuộc loại kỳ cựu ở đây mà!

Nhưng anh lại có ý kiến:

- Kỳ cựu hay không kỳ cựu gì, việc nhà Chúa là mình cứ làm!

Hai anh đều hăng say việc nhà thờ, không phải chỉ hăng say việc đi lễ thôi mà còn hăng say các công tác trong họ đạo. Khi có việc, thấy ông này thì một lúc sau thế nào ông kia cũng lù lù tới. Ông này tới mà ông kia không tới thì kể như có chuyện lạ. Nhiều khi cha sở còn phải nói:

- Ủa sao mà giờ này chưa thấy … tới.

Điều này cho thấy là cha, hay có thể nói rộng ra là nhiều người quan tâm tới hai anh. Làm công tác nhà thờ mà vào ngày thứ bảy hay Chúa nhật thì kể như có đủ hai anh. Sương nhà đèn thì do chuyện nghề nghiệp, thỉnh thoảng đem theo ít dụng cụ để sữa điện. Sương hòa bình thì do nghề chuyên môn, có lúc đạp chiếc “xe ba bánh” lên nhà thờ để lo việc chuyên chở. Nghe anh nói mà suy nghĩ ra, cảm thấy yên lòng:

- Mình không chữ không nghĩa, có cái gì xài cái nấy để dâng cho Chúa cho Bà!

Cứ xưng mình là ít chữ ít nghĩa nhưng gặp chuyện nói thì anh lại nói … nhiều hơn ai hết.

***

Thời “tạo thiên lập địa” như thế nào thiệt tình tôi không biết, chớ từ lúc tôi về gia nhập họ đạo này rồi thì tôi cũng thuộc loại tham gia, nên biết được nhiều người, và ít nhiều người cũng biết tôi. Nhớ tới chuyện bên nhà, việc mà tôi thích thú nhất là việc chia khu xóm, gọi là khu giáo, hay giáo khu, mà bà con thường hay gọi tắt là khu.

Giáo xứ được chia ra 12 khu, theo địa bàn hành chánh, hay nói rõ ra và dễ hiểu là chia theo các con đường. Cái điều thuận lợi là đất đai bên mình nhỏ nên sự phân chia đâu ra đó. Các ô đất được nhà nước chia ra thành những khu đất hình chữ nhật khá đều đặn. Các giáo khu được đặt tên theo các tên đạo như: khu Thánh Tâm, khu Lộ Đức, khu Mông Triệu, khu Thăng Thiên, khu Thánh Linh, khu Fatima…

Mỗi khu có ông khu trưởng là ông biện, cha cắt đặt thêm một khu phó để phụ giúp. Ngặt cái khu ở dưới bến Hàm Tử lại không có ông biện nào ở đó. Tuy không đông người có đạo, khu đó rất rộng rãi, vì nó chạy dài từ đường Trần Bình Trọng, dọc theo bến Hàm Tử, chạy cho tới chợ Hòa Bình, bao luôn bệnh viện Chợ Quán. Bên trong khuôn viên bệnh viện có tượng Đức Mẹ Hòa Bình. Thiệt là thuận tiện, có tượng Đức Mẹ Hòa Bình trong khu, đặt cho khu đó tên là khu Đức Mẹ Hòa Bình. Không có ông biện, giao cho anh Sương là trưởng khu. Tất cả đồng ý, tiện thể gọi luôn anh là “Sương hòa bình”.

Sinh hoạt ở các khu giáo hồi đó rất là ấm cúng. Gần như bà con trong giáo khu đều biết nhau. Mỗi chiều thứ bảy là có làm việc Đức Mẹ tại một nhà nào đó trong khu, do ông trưởng khu cắt đặt. Đi làm việc Đức Mẹ, bà con cứ việc khoác cái áo vô, đi bộ mấy bước là tới nhà nơi sẽ đọc kinh. Gia chủ chỉ việc dọn dẹp cho trống chỗ để bà con ngồi … dưới đất hay đứng mà đọc kinh. Những người trong gia đình thì được ngồi ở phía đầu, ngay trước bàn thờ. Nhà không đủ chỗ, bà con đứng bên ngoài, phía trước nhà.

Phần sinh hoạt theo một khuôn mẫu: khởi đầu bằng “ba kinh Chúa tôi”, xong lần chuỗi Đức Mẹ rồi tới phần suy niệm phúc âm do người trong gia đình “lo”. Mười hai khu mà chỉ có ba cha, nên khi nào có cha đến khu mình thì cuối cùng cha sẽ “bổ túc” phần phúc âm cho bà con. Xong, ai nấy ra về, về nhà mình đi chỉ có mấy bước. Thật là thuận tiện.

Phần sinh hoạt thứ hai là mỗi khi có người qua đời, trong khu mình ở hay khu khác, ông trưởng khu thường cùng với ông phó khu xách nón đi tới các gia đình để thông báo và kêu gọi. Phần gom góp được trích ra xin lễ cho người quá cố, phần còn lại bỏ bao thơ làm tiền phúng điếu. Thật là tình nghĩa.

Phần sinh hoạt thứ ba là lễ “bổn mạng khu”. Đến ngày mừng bổn mạng, bà con trong giáo khu chọn một nơi làm lễ đài, chưng dọn bàn thờ, cờ xí giăng đầy. Ngày lễ, ba cha tới đồng tế, để đặc biệt cầu nguyện cho bà con trong khu và trong họ đạo. Tham dự thánh lễ, có cả bà con có đạo và không có đạo trong giáo khu.

Theo lệnh của tòa giám mục, nhiệm kỳ của các ông trưởng khu, phó khu cũng mấy năm (?) thì bầu lại. Nhưng đến kỳ có bầu bì gì đâu, người cũ cứ vậy mà có mặt hoài. Anh lại có dịp tâm sự:

- Bầu hay không bầu gì thì cũng có mấy mặt làm hoài. Mà thây kệ! Mình có dịp làm việc phục vụ nhà Chúa, cứ làm. Mình có chữ nghĩa gì đâu mà có thể làm được việc này việc kia, làm công việc này chỉ có việc đi liên lạc với bà con thôi.

Đó là ít sinh hoạt của khu giáo ngày xưa ở họ đạo tôi, ở quê nhà, cho tới năm 1975. Năm đó, sau ngày ủy ban đoàn kết công giáo yêu nước đến các họ đạo để hướng dẫn việc sống đạo theo tinh thần mới, dưới chế độ mới, các sinh hoạt trên kể như … “tắt”. Không biết bây giờ như thế nào, chớ còn như ở quê người, ở đây, các sinh hoạt như vậy khó mà thấy được. Ai cũng đầu tắt mặt tối, hơn nữa đất nước này rộng mênh mông, nói là cùng ở trong “giáo khu” chớ đi từ nhà này tới nhà kia nhiều khi cũng phải mất cả nửa tiếng đồng hồ lái xe. Xa cách nhau nên những người trong cùng khu nhiều khi cũng chẳng biết nhau, chỉ thỉnh thoảng thấy nhau ở nhà thờ. Và nhiều người cũng chẳng biết mình thuộc “giáo khu” nào!?

***

Nhớ lại hôm lễ Nữ Vương Hòa Bình, bổn mạng của khu giáo của anh, lễ long trọng và lớn hơn lễ ở tất cả các khu giáo khác. Khuôn viên của bệnh viện Chợ Quán thì rộng lớn, có thể chứa nhiều người. Người đến dự là bà con giáo dân thì đương nhiên rồi, lại thêm bệnh nhân và nhân viên của bệnh viện nên lại càng đông thêm. Ban giám đốc bệnh viện lại còn cho nhân viên phụ giúp nên việc trang hoàng cuộc lễ rất là đẹp đẽ, cảnh trí rất là rực rỡ, huy hoàng.

Lễ xong, cũng như ở mọi khu giáo khác, bà con ai nấy ra về, nhưng ở khu này không phải ai cũng ra về. Những người “quen biết” được anh mời về nhà anh để tiếp tục mừng lễ. Lễ này có “đồng tế” tuy không có các cha. Mà với anh thì, theo như anh nói, việc gì cũng phải tới bến, nhưng theo anh tới bến thì nhiều ghe bị khẳm. Mà như vậy thì, cũng theo anh, anh em mới hết lòng với anh. Anh em nào mà không theo tới bến được, anh “vớt” hết.

Lại nhớ tới hồi tôi sắp đi xa, anh có làm tiệc tiễn đưa tôi, bởi không có sao được. Khai mạc bữa tiệc, anh thay mặt “chủ nhà” nói lời tiễn biệt:

- Chúc anh và gia đình đi bình an, …

Anh nói dài hơn nhưng tôi chỉ nhớ được mấy chữ đó, vì nó nghe êm tai, ấm lòng. Sau khi lòng thấy ấm hơn, anh nói:

- Anh đi mạnh giỏi, rán kiếm tiền trở về thăm anh em.

Lại thêm câu tình nghĩa, anh em khen. Nghe khen anh lấy “thêm hơi ấm” rồi nói:

- Khi nào nghe tin Sương hòa bình này về với ông bà thì nhớ đọc cho tôi vài kinh.

Anh em nghe vậy, lại cũng khen anh có trước có sau.

***

Tin liên lạc từ bên nhà cho hay: anh Sương hòa bình đã tới bến, sau lễ Phục Sinh năm nay. Danh từ “tới bến” thì có ai mà xa lạ, nhưng nếu tra tự điển Việt Nam thì chỉ nghe nói tới việc “đến nơi đến chốn”. Theo tự điển bình dân thì “tới bến” có nghĩa rất là bóng bẩy, có nghĩa là đến nơi đến chốn, hay có thể hiểu là đạt được mục đích, và cũng có thể hiểu là ... Chuyện “tới bến” là chuyện rất quen thuộc đối với anh, là câu anh thường hay nói. Hồi còn đi làm từ tỉnh lên Sài Gòn, sau khi nhiều ngày bềnh bồng trên sóng nước rồi mà thấy được “cầu Chữ Y”, anh có kể lại:

- Thấy được “cầu Chữ Y” là tui kêu vợ và bạn chèo cho họ biết là “tới bến” rồi. Và khi đó ai cũng vui mừng: đã đến nơi.

Đi đâu đi, rồi thì anh cũng về tới bến. Bến không hẹn nhưng rồi ai cũng sẽ tới nơi. Chỉ mong anh về tới bến “hòa bình” như mọi người mong ước. Cầu xin thiên thần Chúa đón anh tại bến bình yên muôn đời. Làm sao tôi quên mà không đọc kinh cho anh!