Bài đã được đăng trên nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, số 331 tháng 3 năm 2014
Thánh Giuse ở xứ tôi

Thánh Giuse đâu phải là “người mình” mà nói rằng thánh Giuse ở xứ tôi. Biết! Nhưng bởi việc gì nó cũng có cai xuất xứ của nó, nên điều tôi nói ra đầy là … đúng. Thánh Giuse là thánh cả trong hội thánh, ai mà không biết, và nhiều người đã từng chạy đến để van xin thánh cả phù hộ. Gần như trong hầu hết tất cả các nhà thờ đều có bàn thờ thánh Giuse, thường là bên phải của bàn thờ chánh khi đứng từ dưới nhìn lên, còn bên phía bên kia, phía bên trái là bàn thờ Đức Mẹ. Đó là cách trang trí gần như là “công thức” của các nhà thờ ở Việt Nam xưa kia, chớ còn bây giờ thì … không biết, và ở những nước khác thì cũng không biết, nhưng chắc là cũng giống như vậy.

Có cái điều này nữa là thời xưa, tên của thánh được bà con lớn tuổi gọi là Giude. Kể ra được nghe tên gọi Giude không phải là dễ, không phải ai cũng có thể nghe được, vì đó là cách phát âm … xưa rồi. Ý tôi muốn nói là muốn được nghe người ta đọc tên thánh “Giude” thì ông bà phải ít nhất là 60 tuổi, nhưng khổ nổi muốn gì khác thì có thể làm được chớ muốn mình già hơn thì không thể được. Hồi xưa đó, gặp chuyện gì hiểm nguy, người ta bật miệng: “Giêdu Maria Giude.” Còn tôi, sáng sớm hôm nào đi lễ một mình, đi ngang qua nhà ông phán T., nhà ông có cây xoài to, nhành lá rậm rạp mà ông thì mới chết. Khi còn sống, ông thường hay ngồi trước nhà, tay chống vào cây gậy. Mỗi lần đi ngang qua nhà ông là cứ thấỵ như ông đang ngồi đó vừa cắm đầu chạy, vừa kêu “Giêsu Maria Giuse”.

Còn việc nữa khi nhớ tới bàn thờ Đức Mẹ và bàn thờ thánh Giuse là việc chào kính khi xong lễ, trước khi ra về. Sau khi người xướng kinh đọc: “Chúng tôi trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ …” Tất cả thưa: “Hằng chữa chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.” Rồi tất cả cúi đầy lạy thẳng tới trước và đọc: “Lạy Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu, thương xót chúng con.” Rồi tất cả các đầu quay qua bên trái, bên phía bàn thờ Đức Mẹ, cúi đầu lạy và đọc: “Lạy trái tim cực thánh cực tịnh Đức Bà Maria, cầu cho chúng tôi.” Rồi tất cả lại quay đầu qua bên phải, bên phía bàn thờ thánh Giuse, cúi đầu lạy và đọc. Chuyện này bây giờ thường không còn thấy được nữa. Không có mấy người còn giữ lề lối xưa. Hơn nữa, nhiều nhà thờ bên Mỹ này không có cách chưng dọn giống như bên mình hồi xưa thì biết thánh Giuse ở hướng nào mà lạy.

***

Ông thánh Giuse là người đã từng sống tại xứ tôi, Bà Rịa. Lại là nói chuyện tầm xàm nữa, có thể bị rầy, xin nói mau ra đây: Ở xứ tôi có một người mà bà con biết, khi nói về ông thường hay nói đùa, gọi ông là thánh Giuse!

Trước hết, một lý do dễ hiểu được nêu ra là thánh bổn mạng của ông là thánh Giuse. Ông có để chòm râu, không biết có giống không nhưng bà con cứ nhìn ông rồi nói hàm râu của thánh Giuse!? Ông sống nghề thợ mộc, là nghề của thánh Giuse nên gọi ông là thánh Giuse thì rất là phải lẽ. Đâu phải vậy thôi, xung quanh nhà, ông trồng toàn là huệ đỏ mà ông bứng từ trên nhà thờ cho thấy là ông rất sùng kính thánh Giuse. Còn cái nữa mà không biết học được ở đâu, bà con xứ tôi nói ông có tánh lầm lầm lì lì, không nói không rằng, cũng giống … thánh Giuse!?

Điều này thì bà con cũng nên thông cảm, tuy cũng làm nghề thợ mộc như nhiều người khác, ông còn làm thêm cái “cao siêu” của nghề thợ mộc là chạm trổ. Chạm trổ mà vừa làm vừa nói bô bô rủi lỡ tay, nó “phạm” một cái thì kể như công trình đang làm kể như bị hư. Có thể nói là tất cả các khung bàn thờ Chúa người ta “thờ” trong nhà, hễ đẹp thì kể như là do ông ta làm. Bởi lẻ, ông chỉ “rớ” tới những cái mắc tiền, những nhà khác thì nhờ những học trò của ông hay những thợ “thường” làm, hay như ở nhà tôi, tượng Chúa để lên trên bàn ngay giữa nhà là quý lắm rồi. Có nhìn các khung thờ do ông làm thì mới thấy được tài nghệ cao cường của ông. Các bông hoa, các đường viền nhìn thật là sắc sảo, tinh vi. Ngoài việc chạm các khung thờ đó, ông cũng tỏ ra rất khéo tay khi … đóng hòm. Vì là thợ mộc mà, ông làm tất cả cái gì liên hệ tới nghề mộc, trong đó có việc đóng hòm. Cũng giống như việc đóng các khung thờ, ông chỉ nhận đóng các “thứ đó” cho nhà giàu. Không phải là ông không biết thương người nghèo nhưng tại vì các cổ áo quan do ông đóng được làm bằng gỗ quý như cẫm lai, huỳnh đàn, nghèo làm sao mà rớ tới được, nên chỉ “dùng” các “áo” bằng cây sao là quý lắm rồi. Đi cầu lễ ở đám tang, thấy và biết được đó là quan tài do ông đóng, ai cũng tỏ ra them thuồng, nhưng biểu vô nằm trong đó thì dứt khoát là không.

Nói tới việc thương người nghèo, ai cũng ồng ý là ông biết thương người nghèo. Như lần đó ông Sáu Dậy chết. Ông Sáu mới thật là người nghèo vì ông sống nghề kéo xe kéo. Nơi ông ở là chái nhà ông chín T cho ông ở. Nhà rất” đơn sơ”, có mái để che mưa nhưng không không có vách. Ông Sáu không vợ con, sáng sớm đi lễ về là lo kéo xe ra chợ kiếm mối. Ông già, mấy hôm ông yếu không đi lễ nỗi nữa. Ai cũng nói rằng ông có phước. Đau nằm xuống có hai ba hôm là ông qua đời. Trong hai ba ngày đó, chính ông đã đem cháo đến cho ông Sáu ăn, và sau khi ông Sáu mất, ông đứng ra lo chôn cất như lo cho một người thân, và dĩ nhiên chiếc quan tài là do ông biếu. Thiệt là giống như thánh Giuse là “quan thầy bào chữa kẻ liệt lào!”

***

Ngày nào cũng vậy, sáng sớm hai ông bà, kẻ đi trước người đi sau: đi lễ. Chuyện Chúa Bà xong, người ta thường thấy ông đạp xe đạp, chở đồ nghề đi làm. Đồ nghề của ông thường là cây cưa, và một bao dụng cụ khác ông treo ở hông xe. Đi làm ở nhà ai gần nhà ông thì ông đi bộ, miệng luôn phì phà điếu thuốc. Đó là hình ảnh quen mắt đối với nhiều người ở xứ tôi.

Năm đó tự nhiên ông vắng mặt mấy tháng trời. Nhiều người tưởng và bàn với nhau là ông “đi rồi!” Tới hồi ông trở về, nghe nói vậy, ông hỏi không ai dám nhận mình đã nói. Ai cũng nói “tui nghe nói vậy” chớ đời nào ai dám nói mình đã nói. Ông hỏi tôi:

- Mầy nghe rồi mầy nói theo luôn phải không?
- Thì nghe sao nói vậy mà!

Ông lại hỏi cắc cớ:

- Mầy thấy tao đây, mầy có chắc là tao còn sống không, hay là tao hiện về!
- Ý trời! Đừng nói giỡn ông. Giữa ban ngày ban mặt làm sao mà hiện về.
Nói thì nói vậy chớ để bảo đảm, tôi đưa tay ra định rờ ông thì khi ông thấy tôi đưa tay ra, ông đưa tay bắt tay tôi. Tay nắm tay, ông cười nói:

- Tin chưa?
- Tin cái gì?
- Tin tao còn sống.
- Sao mà không tin. Gặp chú là tui tin rồi.
- Tin cái gì?
- Tin là chú còn sống. Mấy thằng đó nói bậy nói bạ.

Tôi biết ổng nghi tôi vì thiệt tình mà nói, tánh tôi cũng hay nói, thấy là nói, biết nói, không biết cũng nói, nói cho vui mà! Chưa kịp giải bày, ông hỏi liền:

- Mầy biết mấy tháng rồi tao đi đâu không?
- Không! Mà chú đi đâu vậy chú tư?
- Tao đi Sài Gòn.
- Đi làm gì ở trển?
- Tao đi Tân Định.
Tân Định là ở đâu? Không trả lời liền, ông rút bao thuốc ra, lấy giấy ra, vê điếu thuốc, lấy hộp quẹt ra, đốt thuốc hút rồi mới từ từ nói, y như lúc ông đang chạm trỗ.

***

Cha sở cựu của họ đạo tôi là cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Năm 1933, cha được phong làm giám mục người Việt đầu tiên, cai quản địa phận Phát Diệm. Sau khi làm mấy công trình để lại như xây trường họ (trường học của họ đạo), xây “nhà tuồng” để diễn tuồngcho bà con giải trí, sửa sang nhiều nơi trong và ngoài nhà thờ, cha được bề trên đổi về làm sở họ Tân Định. Tại nhà tuồng này, bà con xứ tôi được biết các vỡ tuồng đạo như tuồng “thánh Xitô”, thánh Alêxù”, … và đặc biệt nhất là tuồng “Thương Khó”. Đó là các vỡ tuồng của nhà soạn kịch công giáo Đoàn Công Chánh, em của cha Đoàn Công Đạt làm sở họ tôi sau cha Tòng và cha Long. Tuồng diễn lại việc Chúa chịu chết. Diễn viên là bà con trong họ đạo. Giám đốc kiêm đạo diễn là cha sở Tòng. Vào cửa: miễn phí! Lần nào cũng vậy, người ta hết sức đông, hết chỗ ngồi, còn chỗ đứng.

Khi còn làm cha sở Bà Rịa, tất cả mọi công trình sữa chửa trang trí trong nhà thờ mà có liên hệ tới nghề mộc thì cha đều kêu người thợ mộc t ài hoa mà cha rất là nể trọng, khen ngợi, mà cha đ ã vui miệng gọi là ông thánh Giuse của họ đạo Bà Rịa. Có vậy người ta mới dám gọi chớ. Kịp khi nhà thờ Tân Định có sữa chửa, cha đã viết thơ về cho cha sở họ Bà Rịa là cha Long để “triệu” người thợ mộc thân yêu .

Nhiều người thích ngắm nghía, khi đến viếng nhà thờ Tân Định, nếu có để ý mới thấy được những khung chạm trỗ trên vách nhà thờ, ở các khung cửa, trên cao dưới thấp. Nhiều người đã trầm trồ khen ngợi, nhưng đâu mấy người biết được những khung hoa văn đó lo người thợ mộc hiền hòa xứ Bà Rịa, là ông Tư Nhi. Nhiều người kính nể ông đã gọi ông là thầy Tư Nhi. Lần đó, ông đã dẫn theo người học trò là ông Bảy Để, rồi hai thầy trò ở lại làm việc liên tục hơn ba tháng trời rồi được về phép đâu độ hai tuần rồi trở lên làm tiếp. Lên xuống như vậy đâu ba hay bốn lần gì đó, hơn năm xong việc thì cha sở Tòng họ Tân Định đã long trọng cám ơn ông trong nhà thờ, trước mặt mọi người, tặng quà rồi đưa tiễn ông ra xe đò trở về Bà Rịa.

Chắc là đã làm xong công việc với tài nghệ mà Chúa đã trao ban cho ông, trở về quê được vài ba tháng thì ông ra đi, vĩnh viễn ra đi. Dưới con mắt người đời, ông là người biết kính Chúa yêu người. Ông Tư Nhi hay thầy Tư Nhi đã mất nhưng tay nghề của ông còn để lại là những công trình ông đã làm tại nhà thờ Tân Định, nhưng mấy ai biết được! Ông là người Bà Rịa nhưng những tác phẩm ông làm ra thì còn tại nhà thờ Tân Định mà tại nhà thờ Bà Rịa thì không còn lưu lại được gì nữa!