Tôi là người

Không! Không phải vậy! Bởi vừa nghe nói, có người đã vội hỏi, không lẽ anh là ...
Nghe hỏi, tôi cũng thấy giựt mình, vì mình chậm chạp trong lời ăn tiếng nói, chưa kịp nói ra hết ý mình để người nghe, vì chưa kịp hiểu mình mà có thể hiểu lầm, nên nghĩ … không chính chắn về mình. Dạ không, tôi muốn nói: tôi là người đã …, đã làm một cái gì đó, thí dụ như đã có được những kỷ niệm về việc này, việc nọ. Tôi muốn nói nhanh ra ở đây rằng tôi là người có những điều nhớ về thánh Giuse. Nhớ đây, xin nói nhanh ra ở đây để tránh bị hiểu lầm là “bộ anh có quen với thánh Giuse sao mà nhớ?” Không, nhớ đây là nhớ về thánh cả, về những chuyện thánh cả đã làm cho chúng ta. Ai mà không biết thánh cả Giuse, nên nhớ không có nghĩa là do đã có quen biết với Ngài mà nhớ, đây là nhớ những chuyện liên hệ tới Ngài, những chuyện mà Ngài đã có ảnh hưởng đến đời tôi.

Nhớ chuyện hồi xưa và hôm nay xin nhắc lại ở đây, mỗi lần vô nhà thờ, nữ đi qua bên trái, nam đi qua bên phải, đâu đó phân minh, nam riêng nữ riêng. Phía bên trái có bàn thờ Đức Mẹ, nữ đi qua bên trái vì họ là “con Đức Mẹ.” Còn nam đi qua bên phải, có bàn thờ thánh Giuse, vậy mà không có hội “con thánh Giuse”?!

Còn ngày thứ bảy, học trò trường họ (trường nhà thờ) có bổn phận làm vệ sinh nhà thờ: quét nhà thờ. Khi quét nhà thờ thì cũng nữ quét bên trái, nam quét bên phải. Sau khi quét sạch hết nhà thờ rồi, đồng nhi nữ (con gái) thì lo quét dọn bàn thờ Đức Mẹ, đồng nhi nam (con trai) thì lo chưng dọn bàn thờ thánh Giuse.

Rồi cũng chuyện hồi xưa, chớ bây giờ làm gì có, xung quanh nhà thờ ở xứ tôi, tới khoảng tháng 5, sau khi trời đã đổ mưa thì “huệ thánh Giuse” từ dưới đất nổi lên, rồi trổ bông đỏ rực. Bông tàn thì cây cũng chết, rồi “chìm” xuống đâu dưới đất, năm sau lại mọc trở lại, như để nhắc nhở người ta nhớ tới tháng thánh Giuse, nhớ tới thánh Giuse.

Ngoài Chúa và Đức Mẹ không phải là thánh, nói về thánh thì thời đó, bọn tôi chỉ biết có thánh Giuse và thánh Antôn, vì có tượng để trong nhà thờ xứ tôi. Hai thánh bổn mạng nhà thờ là Gia cô bê và Philipphê thì lại đứng phía dưới nhà thờ nên không được chú ý tới, bởi vô nhà thờ thì ai cũng quỳ nhìn lên chớ nhìn xuống làm gì. Còn khi ra về, thì lo ra về chớ đâu có chú ý thánh nào với thánh nào chi nữa. Thánh Antôn thì vì để tóc kỳ quá, nên chỉ có thánh Giuse là được chúng tôi chuộng nhất. Vì mến chuộng, tôi cứ “xem” như thánh bổn mạng của mình là thánh Giuse.

Bị ám ảnh như vậy nên khi vào chủng viện, mọi việc liên hệ tới tôi được tôi ghi là Giuse S. Nhìn vào giấy tờ, cha giáo thắc mắc, hỏi:

- Tên thánh của con là gì?

- Dạ thánh Giuse!

Thấy chuyện hơi lạ, các cha phải gởi thơ về quê để nhờ cha sở xác nhận. Chớ phải như thời bây giờ thì một cú “phôn” là xong. Thời đó phải thư qua thư lại, mấy tuần sau, các cha mới biết được lý lịch ở sổ bộ trên trời của tôi, và từ đó cho tới bây giờ lý lịch được sữa lại là Micae S, nhường lại thánh bổn mạng Giuse cho những người đã thật sự có thánh bổn mạng là thánh Giuse, nhưng phần tôi, tôi vẫn còn có thánh bổn mạng khác cũng là Giuse, nhưng là … thánh bổn mạng của nhà trường.

Nhà trường đây là nơi tôi đã ở để ăn mày ba chữ của thánh hiền và trau giồi chút ít … đức hạnh. Nhà trường đây là Chủng viện thánh Giuse, nằm tại số 6 đường Luro, sau đổi tên là đường Cường Để, và bây giờ thì lại có tên mới rồi. Đây là nơi đã đào tạo biết bao vị chủ chăn có tên tuổi của giáo hội Việt Nam, nhiều người biết, mà gần đây nhất, là đức hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn. Vào tu thì đông, những người “yếu chân” thì thành đạt, còn những người “khỏe chân” như tôi và một số anh em khác, đã “nhảy rào” thì kể sao cho hết. Nếu áp dụng câu trong Phúc âm nói rằng: “Chúa kêu thì nhiều nhưng Chúa chọn thì ít” thì thấy rất là đúng.

Nó được gọi là “Chủng viện Sài Gòn” vì đó là nơi đào tạo các linh mục thuộc địa phận Sài Gòn. Thời đó, địa phận Sài Gòn rộng lớn, bao gồm cả miền Nam (?), sau mới được tách ra các địa phận khác như Vĩnh Long, rồi Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Bình Dương (hay Phú Cường), Xuân Lộc, và bây giờ thêm Bà Rịa. Hồi xưa đó, các thầy thuộc các địa phận Nam Vang, Qui Nhơn, KonTum, cũng được gởi tới học tại đại chủng viện ở đây. Cũng ở cái thời xưa đó, hễ nói tới đi tu thì bà con liền nghĩ tới, nếu là nữ thì đi nhà phước, đen hoặc trắng, còn đối với nam thì y như là đi nhà trường. Nhà trường đây là nhà trường la tinh, nói rõ thêm là nhà trường la tinh Sài Gòn. Nói theo tiếng Tây thì là Séminaire Saigon. Về sau, văn minh hơn mới gọi là Chủng Viện Sài Gòn, hay Chủng Viện thánh Giuse.

Gọi như vậy thì thấy rõ là thánh Giuse được chọn là thánh bổn mạng của chủng viện. Ai có đi vào chủng viện sẽ thấy ngay điều đó. Để đi vào bên trong của chủng viện, phải đi qua tòa nhà đầu tiên như trong hình. Một tượng thánh Giuse bằng đồng được đặt trên lầu một (chỗ có mũi tên), theo cách gọi của ta, dưới cùng là tầng trệt, rồi đến lầu một. Ngày tựu trường, sau khi vào nhà nguyện đọc kinh, dự thánh lễ đầu tiên của “tam cá nguyệt”, xuống nhà cơm ăn cơm tối, đi dạo chơi, vào nhà nguyện đọc kinh tối, trước khi lên nhà ngủ tất cả anh em ra núi Đức Mẹ đọc kinh, chào Đức Mẹ. Anh em đứng vây quanh tam cấp, xong bước xuống phía sân, quay mặt lại nhìn lên lầu, đọc kinh cùng thánh Giuse, như muốn nói: kính chào cha thánh, tụi con đây, người thì trở lại, người thì mới tới.

Đi vào khu của chủng viện thì việc ai cũng phải làm là “chun” qua dưới bức tượng thánh Giuse. “Thánh Giuse” này linh thiêng lắm. “Mấy anh lớn” kể lại: hồi đồng minh đánh Nhật, bom đạn bay tứ tung, rớt xuống nơi này nơi nọ nhưng “chừa” nhà trường la tinh Sài Gòn ra, vì thánh Giuse đã lấy vạt áo, “phất” cho bom đạn bay đi khỏi, nên nhà trường không bị hư hại?!

***

Còn việc này thì kể như là nhiều người đã “ăn cơm nhà chung” đều biết, và tin lắm.

Chuyện “thường ngày” trong Chủng viện là mỗi tối thứ bảy, các chủng sinh sau khi đọc kinh tối trong nhà nguyện đi ra “đọc kinh núi”, nghĩa là ra đọc kinh ở núi Đức Mẹ ở trước tòa nhà đầu tiên như thấy trong hình. Rồi, sau khi tựu trường đầu năm học xong, ngày lễ thánh Giuse vào tháng 3: một ngày vui, một ngày tưng bừng, một ngày sum họp, một ngày gặp gỡ, một ngày đầy kỷ niệm, và cũng là một ngày … buồn.

Ngày vui vì hôm đó khắp sân trường cờ xí tung bay. Ngày tưng bừng vì sinh hoạt ở trường hôm đó rất là nhộn nhịp, ồn ào từng lúc. Ngày sum họp vì hôm đó người người đổ tuôn về “nhà trường”: cha mẹ của tiểu chủng sinh và đại chủng sinh (các thầy) và bà con, những cha là những người đã “tốt nghiệp” đang ở “quanh vùng”, bà con giáo dân ở các họ gần như Tân Định, Thị Nghè, Gia Định, Chợ Đủi, Nhà Thờ Đức Bà. Bà con ở vùng Lái Thiêu, Búng thì bao xe đò xuống thăm… Ngày sum họp vì hôm đó cha mẹ anh em đến để thăm và chung vui với người chủng sinh, những đứa con đang sống xa gia đình. Ngày gặp gỡ vì hôm đó người cùng xứ được gặp nhau nơi “xứ người”, bạn bè “cũ mới” có dịp gặp nhau. Ngày buồn vì cha mẹ đến thăm, đến chung vui là đối với những chủng sinh thuộc các họ đạo gần, chớ còn những người đến từ các họ đạo “xa” thì … đâu có ai đến thăm. Các anh này được phân công đi làm công tác: đi tìm dùm anh nào có thân nhân đến thăm mà chưa gặp.

Còn ngày đầy kỷ niệm thì lại là kỷ niệm … buồn. Chuyện buồn xảy ra sau ngày vui, tưng bừng, gặp gỡ, sum họp đó, nhưng đã bắt mầm từ tối trước ngày lễ. Chiều tối đó, sau khi đọc kinh tối ở nhà nguyện, tất cả lớn nhỏ gồm có tiểu chủng sinh, đại chủng sinh (các thầy), và cả các cha giáo. Đọc kinh “núi” thì đứng quay mặt ra núi Đức Mẹ, nghĩa là nhìn về phía đường Luro. Đọc kinh “thánh Giuse” thì đứng trên đường trải nhựa trước tòa nhà, quay mặt vô, nhìn thánh Giuse. Tượng thánh Giuse “đứng” ở trên lầu 1, vì thế ai cũng phải ngẫng mặt nhìn lên. Hai bên tượng có đốt nhiều cây đèn cầy. Trời tối. Đèn điện tắt hết. Ánh sáng từ những ngọn đèn cầy làm sáng rực cả khu vực, trông thật đẹp, huyền ảo và linh thiêng.

Nhưng giữa trời thì thường hay có gió, mà gió thì làm đèn tắt. Đó là chuyện thường. Vậy mà có khi gió vẫn có mà đèn không tắt! Đó là chuyện không thường. Còn khi có gió mà đèn tắt thì tưởng là chuyện thường, nhưng lại không thường. Chuyện không thường là vì số đèn bị thổi tắt ứng với chuyện xảy ra được kiểm lại sau đó, đã nhiều lần xảy ra, ở nhiều thế hệ.

Đứng đọc kinh bên trước dưới tượng thánh Giuse, không phân chia nhưng cũng nhận ra được bên trái bên phải. Hễ mà … Có bao nhiêu đèn cầy bị thổi tắt là sau đó sẽ có bao nhiêu anh … ra về. Nếu để ý mà nhớ lại thì, còn thêm chuyện không thường nữa. Bao nhiêu ngọn đèn bị thổi tắt ở phía bên trái thì sẽ có bấy nhiêu anh đứng phía bên trái ra về. Năm đó, có hai ngọn đèn bên trái và một ngọn đèn bên phải bị thổi tắt. Lần đó tôi đứng phía bên trái, hai anh một đứng sát cạnh tôi, một anh đứng ngay sau tôi … ra về, nên tôi biết rõ và … tin. Rồi năm đó, lần đó chỉ có một ngọn đèn bị thổi tắt bên phía tôi đứng, thì chèn ơi, ngọn đèn tắt đó là … để chỉ tôi. Chuyện có vẻ khó tin, nhưng nhiều người đã tu ở đó, đã biết và đã tin. Ai không tin, đi hỏi đức hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, ngài sẽ nói cho nghe.

***

Tôi là người, gẫm lại, có dính líu tới thánh Giuse rất nhiều. Khi còn nhỏ, trong nhà thờ, muốn nhìn bàn thờ chánh, nhìn tượng Thánh Tâm Chúa thì phải ngẫng mặt lên rồi nghiêng đầu qua bên trái, còn nếu chỉ ngẫng mặt lên là nhìn thấy thánh Giuse. Đi vô nhà thờ mà đi bằng cửa hông thì bàn thờ ngay trước mặt dứt khoát là bàn thờ thánh Giuse. Quỳ xuống bái gối là bái gối lạy … thánh Giuse chớ lạy ai!

Và dẫu gì, đó là một trong những chuyện về thánh Giuse bên xứ mình, lẽ nào “bên này” không có. Ở đền thánh Giuse ở Mont Royal, Montréal, Canada người ta thấy rất nhiều đôi nạng gỗ được bỏ lại để … tạ ơn thánh Giuse! Chính đền này là nơi xuất phát vị thánh có lòng tôn thờ thánh Giuse rất mực: thánh André Bessette. Ta hãy bắt chước thánh André!