Tưởng là đã chết

Trong đợt đồng bào miền Nam trở về đất mẹ, bà con ở họ đạo tôi trông chờ. Người ta trông chờ vì người ta biết là trong họ đạo cũng có người đã “tập kết” đi ra miền Bắc. Báo chí có đăng tên những “vị” sắp trở về, nhưng toàn là những người ở cấp cao, như các linh mục Võ Thành Trinh, Hồ Văn Biên, ông Năm Đông, … còn như người “thường” thì của họ đạo này cũng có nhưng chưa nhớ ra. Những người như kể trên thì sau khi trở về miền nam, làm việc ở cấp thành phố, còn những người kia thì làm việc ở địa phương.

Một chiều Chúa nhật trong đầu tháng 5-1975, một phái đoàn của hội “người Công Giáo Yêu Nước” đến nhà thờ họ tôi để “an ủi” bà con, thăm viếng bà con, và để phổ biến cho bà con biết, hướng dẫn để bà con hiểu lối sống mới, tinh thần mới để vừa yêu nước, vừa giữ đạo. Cha Võ Thành Trinh đến. Bà con náo nức để thấy cho được mặt cha. Cùng đi với cha có ông Phan Khắc Từ, và chính ông này mới là người có bổn phận đứng ra giảng dạy cho bà con về chính sách của đãng đối với đạo, tinh thần sống đạo mới chớ còn cha Võ Thành Trinh chỉ chào hỏi rồi lui lại phía sau để cho Phan Khắc Từ nói. Đoàn đại biểu của “người Công Giáo Yêu Nước” đứng trên bao lơn của trường học bên trước nhà thờ, bà con bổn đạo đứng ở trong sân nhà thờ mà để giữ an ninh cho bà con, cửa trước cửa sau nhà thờ được khóa lại, có bộ đội cầm súng đứng canh. Sau khi giới thiệu xong, người ta thấy được cha Võ Thành Trinh, vài người khác, nhưng còn ai mà người hơi cao lớn, gương mặt lầm lầm lì lì, nước da hơi sạm đen, mặc quần áo cán bộ nhà nước, cũng đứng trên bao lơn đó mà không nghe nói rõ tên, vì được giới thiệu bằng bí danh, lại nghe không rõ nên nhiều người không biết được là ai. Trong hàng ngũ giáo dân đứng nghe “giảng”, có ông câu B. Khi ra về, ông có nói với bà con đi gần ông:
       - Thằng tư Cần đó chớ ai!

***

Ông ta thuộc lớp lớn. Đồng trạc với ông, nhiều người đã mất, cũng có người còn. Trong số còn có ông câu B. là người biết ông nhiều hơn hết thảy. Hai ông là người bạn lối xóm. Nhà hai ông ở mặt tiền đường, cách nhau một căn. Hai ông cùng làm việc ở Nhà Đèn Chợ Quán, ông câu B làm thơ ký, ông ta thì làm thợ máy. Hằng ngày, hai ông đi lễ sáng chung với nhau, rồi cũng về chung, đi làm chung, đi về chung.

Sau khi ông “đi khu”, người ta ít nhắc đến tên ông. Vậy mà nhiều khi làm bàn kiệu, người ta nói đến ông. Mấy người cũng hơi trọng tuổi nói: cái này phải là tư Cần, bởi ông ta có biệt tài làm bàn kiệu, nhất là bàn kiệu Trái Tim Chúa. Phần khiêng kiệu dành cho bên phía nam, mà chuẩn bị trang hoàng cho bàn kiệu là phải do tư Cần. Dọn bàn kiệu thì phải có ông ta, nhưng khiêng bàn kiệu thì ông không được tính tới, bởi ông cao lớn hơn người ta, nếu ông mà khiêng kiệu thì bàn kiệu sẽ chênh qua một bên. Cho nên mỗi lần kiệu Trái Tim Chúa, ông đi hầu ở hai bên để phòng hờ bất trắc, và phụ giúp anh em khi lên xuống các bậc tam cấp ở tiền đàng nhà thờ.

Người ta cũng thường hay nhắc tới ông ở mùa Giáng Sinh khi họ đạo lo làm máng cỏ, bởi ông là người khéo tay. Lên cao thì ông cao, chuyện nặng thì ông thuộc loại cao lớn, có gì nặng, người ta hay nói: chờ tư Cần. Dựng dàn đâu đó xong xuôi, người ta chờ ông ngắm nghía, phê phán rồi mới làm tiếp. Năm đó, họ đạo tổ chức hoạt cảnh Giáng Sinh, cho có người mục đồng “xứng đáng là mục đồng” thì cha chọn tư Cần. Ông đi sau cùng, trên vai có vác con chiên. Con chiên này (tượng bằng đất nung), ai mà vác cho nổi nên khi cha chọn tư Cần, ai cũng đồng ý, và tư Cần cũng vui vẻ nhận. Lễ Giáng Sinh năm đó, những người lớn tuổi đã có tham dự, ai cũng hoan nghênh. Một máng cỏ “tạm” được đặt trên cung thánh. Sau khi Đức Mẹ, thánh Giuse và Chúa Hài Đồng (cũng là tượng) đã xuất hiện, đám mục đồng từ trong phòng thánh đi ra mừng Chúa Hài Đồng. Mấy mục đồng đi trước, có mấy chú mục đồng con, tới người mục đồng đi cuối cùng, vai có vác con chiên to, người ta cười quá xá, không biết là ai vì râu ria xồm xoàm, nhưng mà thấy tướng tá cao lớn, có vài người đoán được. Rồi miệng truyền miệng, người ta xì xào trong nhà thờ: thằng cha mục đồng tư Cần, thằng chả chớ ai! Hình ảnh kỷ niệm năm đó còn được giữ trong cuốn album của ông trùm N. và trong trí óc những người thời đó.

***

Từ sau ngày trở về, bạn bè cũ của ông chỉ có một mình ông câu B, vừa là người đàn anh, vừa là lối xóm, và cũng là người mà ông ta kính nể. Những người khác cũng còn nhưng không ai ưa nói chuyện với ông bởi ông cứ luôn luôn chê trách, chỉ trích, rồi ông khen những cái mà không ai ưa thích. Hơn nữa, ông cũng chẳng nhìn tới ai. Người trong họ đạo này, ngoài ông câu B, ông chỉ hỏi thăm ông trùm N là bỏ đỡ đầu của ông:
        - Hổng biết lúc này ông bỏ tôi còn khoẻ không?
Ông câu B cho biết:
        - Ảnh mới chết năm ngoái!
        - Tội nghiệp! Ổng không thấy được ngày vinh quang của đất nước!
Ông câu B. làm thinh. Ông ta hỏi tiếp:
        - Còn thằng con đỡ đầu của tôi, nay bao lớn rồi, học tới lớp mấy rồi? Ông câu trả lời:
        - Làm cha rồi! Cha đang làm thơ ký cho tòa tổng Giám Mục.
        - Thế à?

Chỉ có vài câu chuyện người ta biết được về ông qua ông câu B. Còn ông, cái mặt ông ai ở họ đạo này mà không biết. Ngày nào mà người ta không thấy ông đi làm, đi băng ngang qua khuôn viên nhà thờ. Ông thường đi phía bên núi Đức Mẹ, liếc sơ qua thôi chớ không có nhìn vào núi. Nhà thờ cũng vậy, mỗi khi đi ngang mà nghe trong nhà thờ có tiếng đọc kinh, ông cũng chỉ hất mặt một cái rồi gầm mặt bước đi. Duy có lần đó ông đi vào bên trong nhà thờ, vào trong phòng thánh. Hôm đó, Đức Cha phụ tá về ban phép Thêm Sức, có giấy phép hẳn hòi. Sau khi Đức Cha tới và còn quì đọc kinh phía trước, ông cùng đi vào trong phòng thánh với một anh công an, đi qua đi lại, ngó tới ngó lui. Đức Cha vào phòng thánh để “mặc áo lễ”. Khi Đức Cha phủ áo lễ vào, ông đưa tay chỉ, anh công an nọ đến sau lưng Đức Cha, chui đầu dưới áo lễ, để … làm gì, Trời mà biết được. Tiên sư!

***

Sau khi ông về được đâu vài tuần thì vợ ông thu xếp đồ đạc đi về quê sinh sống, bỏ căn nhà đó lại cho ông ở một mình. Đó là căn nhà do chính ông đã gầy dựng và ở với vợ con trước ngày ông “ra đi”. Nay ông trở về, ông không muốn thấy cái bàn thờ ở ngay giữa nhà. Bàn thờ này trước kia nhiều lần ông đã khoe “do chính bàn tay tui đóng, kiểu do tui vẻ, còn tượng Chúa thì chuộc ở nhà sách Tân Định, tượng ở bên tây về!” Ông muốn lập một cái bàn thờ khác. Vợ ông không chịu. Bà cho đem hết về nhà đứa con trai ở bên kia đường, rồi về quê ở Bến Tre sống với ruộng vườn cha mẹ để lại, thỉnh thoảng lên thăm con nhưng không còn muốn gặp mặt người “không cùng đạo” nữa.

Làm việc tại địa phương này thì ngoài ông còn có anh Kính làm việc ở ban an ninh phường. Anh đã chết vì bệnh gan trong sự lo lắng chăm sóc của cha phó với anh em. Anh Kính đã trở lại đạo đàng hoàng cho nên nhiều người nói để coi “thằng cha tư Cần” có trở lại không. Không ai mong đợi nhưng rồi ai cũng đoán xem ngày đó ra sao. Ông tỏ ra thoải mái khi sống một mình. Ngày ngày đi làm, trưa chiều ăn cơm ở phường do “chị nuôi” nấu. Tối về nhà nằm coi TV, năm thuở mười thì ông ghé qua ông câu B nói chuyện xưa chơi. Tuy không còn hợp với nhau như xưa nhưng nhiều khi nhắc lại chuyện xưa, ông có vẻ trầm ngâm, theo như lời ông câu B kể.

Hôm lo đám tang cho anh Kính, ông câu B cũng có đến. Đọc kinh đâu đó xong xuôi, ngồi nán lại bàn chuyện đời, có người nói:
        - Thằng Kính coi vậy mà có phước, phần xác ấm êm mà phần hồn thấy cũng tốt đẹp. Không biết rồi đây ông tư Cần có trở lại được như thằng Kính không? Ông câu B chậm rãi nói:
        - Không ai dám nói trước, vậy chớ tôi tin là tư Cần thế nào cũng sẽ trở lại theo như lời Chúa đã hứa.
        - Mà Chúa đã hứa gì với ổng?
Câu hỏi làm cho ông câu B phải bật cười, rung rung chòm râu bạc:
       - Chúa nào mà hứa gì với nó? Chúa hứa với mọi người. Vậy chớ mấy em không nhớ là có lời Chúa nói với bà thánh Magarita là: ai giữ trọn 7 thứ sáu đầu tháng thì Chúa sẽ không để cho kẻ ấy phải mất linh hồn. Mà thằng tư Cần sau này thì nó vậy chớ hồi xưa, nó tôn sùng Trái Tim Chúa lắm. Nó luôn luôn giữ thứ sáu đầu tháng. Nội cái bàn thờ nhà nó, anh em có tới thì thấy. Rồi không hiểu nó nghe ai mà bỏ đi tầm bậy tầm bạ rồi trở về lại nghịch với lẻ đạo!

Có ai dám nghĩ là ông câu B nói vậy mà hay “như thần”. Chôn cất anh Kính xong xuôi thì đâu độ một năm sau, người ta đồn tin ông Tư Cần ngả đau. Ông cũng gần bảy mươi rồi. Khổ nổi là ông không chịu đi bệnh viện. Nghe tin ông đau, mấy hội đoàn và nhóm cầu nguyện làm giờ thánh cầu nguyện cho ông. Thấy cả tuần rồi mà ông không có đi làm, ông câu B ghé thăm. Được một cái là ông câu B nói gì là ông ta nghe cái đó. Ông câu B đề nghị:
       - Để tui rước bác sĩ tới khám bệnh cho chú!
Ông từ chối liền:
       - Thôi anh! Tốn kém lắm, tiền đâu mà lo!
       - Chú khỏi lo! Ông bác sĩ này cũng có đạo, ở cùng đường với mình đây nè! Phần đó để tui lo!

Có nói có làm! Chiều lại, người ta thấy bác sĩ H đến nhà ông tư Cần, có ông câu B ở đó. Bác sĩ làm công việc của mình xong, nói:
       - Để tôi cho bác thuốc …
Bác sĩ chưa nói dứt câu, ông đã cướp lời:
       - Bác sĩ cứ nói thiệt cho tôi biết rõ để tôi còn lo phần linh hồn!
Bắt câu nói này, bác sĩ về rồi, ông câu B hỏi lại:
       - Hồi nảy, tui nghe chú nói gì mà trở lại…

Rồi hai ông bàn bạc với nhau. Ông câu B kêu con ông tư Cần qua, biểu nó đem bàn thờ Trái Tim trở lại “nhà cũ”, nhắn kêu má nó trở lên, kêu mấy anh chị em nó trở về thăm ba.

Nhờ nhà ở gần nhà thờ, các cha đã sáng tới chiều tới với ông cho đến một hôm, tối trời rồi mà cha còn ở lại …

Ông câu B lớn tuổi rồi, nên dầu là thân nhất, ông cũng chỉ đi dự thánh lễ qui-lăng ở nhà thờ, rồi theo tiễn chân đến cỗng nhà thờ chớ không đi đưa nổi về Bến Tre. Anh em không đi, hộ tống ông câu trở về, nghe ông chậm rãi nói:
       - Thiệt là quí cho chú tư! Như vậy là đạo đời êm đẹp hết. Mà mấy em thấy hôn? Người đời thì còn nuốt lời, chớ Chúa đã hứa … là không bao giờ sai chạy!

Ông mới nhắc lại cho anh em biết là hồi xưa:
       - Hai đứa tui đi lễ sáng gần như mỗi ngày. Còn như thứ sáu đầu tháng thì mặc cho có trời mưa, tụi tui không bao giờ bỏ.
Ông như muốn nhấn mạnh thêm:
       - Tui bây giờ cũng vậy, trừ khi chết rồi thì mới thôi!
Anh em thích ý câu nói này:
       - Chớ lúc đó, chết rồi ông còn đi đâu nữa? Ông mà đi là tui bỏ tui chạy!
Ông cười, biết là bị tụi nhỏ bắt lỗi mình:
       - Ậy! Tui cứ tưởng là tư Cần “chết luôn rồi”, nhưng giờ cái chết của chú tư Cần làm cho tôi thấy rõ thêm lời hứa của Chúa cho những ai năng giữ thứ sáu đầu tháng…