Vẫn còn nhớ hoài

Nếu nhớ xưa hơn thì cũng phải hơn 65 năm kể từ ngày tôi-nó biết nhau, quen nhau rồi thân nhau. Gia đình tôi là dân kỳ cựu ở xứ này, không biết đã mấy đời. Gia đình nó, sau này lớn lên tôi mới biết, là người từ miền Bắc di cư vào Nam, nhưng không thuộc lớp 54 (sau hiệp định Genève), cũng không thuộc lớp năm 75 (sau biến cố chính trị gần đây) mà thuộc lớp 32. Ai rành chánh trị thì biết, còn tôi, chỉ biết là nó đã đến với tôi.

Sau một thời gian, khi đã quen nhau rồi, đội banh xóm tôi có thêm hai cầu thủ. Nhà thờ có thêm 6 bổn đạo. Trường nhà thờ có thêm 2 học sinh mới, chị nó và nó. Ban giúp lễ có thêm một đứa, là nó. Ngày đầu nó đi học, má tôi phải đi theo để thông dịch cho bà phước nghe, vì bác hai gái, má nó, nói "tiếng Bắc" bà phước nghe ... không được rõ.

Từ sau ngày gia đình nó dọn về ở kế gia đình tôi, có những điều thuận lợi cho cả hai gia đình là cả hai đều là gia đình công giáo. Cứ đêm đêm, tiếng đọc kinh cứ vang lên, khi thì ở nhà tôi trước, khi thì ở nhà nó trước. Hồi đó làm gì mà có được cái đồng hồ. Hễ nghe bên nhà nó đọc kinh thì bên này, gia đình tôi cũng bắt đầu đọc kinh, vì nghe tiếng đọc kinh ở nhà bên kia thì kể như là đã tới giờ ... đọc kinh. Còn nếu ai hỏi mấy giờ thì chịu, vả lại cũng không cần biết.

Sáng sớm cũng vậy, hơi đâu mà tin mấy con gà, tụi nó gáy khoảng giờ nào đó chớ đâu có phải là gáy lúc nào đó, nên nếu căn cứ theo tiếng gà thì có khi tới nhà thờ chưa thấy ai, có khi tới nhà thì cha "đã ra bàn thờ". Chờ nghe tiếng chuông nhà thờ thì nhiều khi cũng hơi trễ một chút. Sáng để dậy đi lễ, một là nghe tiếng chuông "công phu" của "chùa nhà" của bà sáu bán trầu thì lo thức dậy đi lễ là vừa, còn không thì nghe tiếng động bên nhà của nó. Xong, cả hai nhà họp lại thành đoàn, cùng nhau đi nhà thờ.

Dù là hai nhà ở kế nhau, cách ngăn bởi một hàng rào vậy mà cũng có một đường mòn qua lại giữa hai nhà. Do sự qua lại thường xuyên, hằng ngày của tụi tôi mà con đường mòn này được hình thành. Mỗi lần qua lại, tụi tôi không cần phải đi ra bằng cửa ngỏ nhà tôi (cửa vào nhà) rồi vòng qua tới cửa ngỏ nhà nó rồi mới vào nhà, bây giờ chỉ băng qua hàng rào là xong, là tới nơi.

Gia đình nó có bốn anh chị em, anh Khoa, anh Khai, chị Hạnh rồi tới nó, nghĩa là nó là con út. Bên này tụi tôi cũng có bốn anh em trai, và tôi cũng là út. Tới khi vô trường rồi thì hai đứa lại học cùng một lớp thì mới biết được thêm là nó cùng tuổi với tôi. Nó cùng trạc tướng tôi nên khi được chọn làm học trò giúp lễ, hai đứa làm thành một cặp.

***

Vì cùng tuổi nên cái gì hai đứa cũng cùng làm như nhau. Hình như tất tất gì tôi với nó cũng chung nhau: rước lễ vỡ lòng, bao đồng, thêm sức, và cả đi học giúp lễ. Khi đến tuổi đi "trưng binh", nghĩa là đi khai gì đó ở trụ sở làng thì số của tôi là 41-1316228 còn số của nó là 41-1316229, vì nó đứng kế sau lưng tôi khi đi ra làng nên số của nó lớn hơn số của tôi. Rồi lớn thêm lên, xin được nói văn hoa một chút: hai đứa tôi là "trai thời chinh chiến"." Mà đi đánh giặc thì, nói văn hoa nữa: "cổ lai chinh chiến bất phục hồi," đi thì có mà lắm lúc về thì không! Ai có đi mà không có vê? Ai mà biết được. Nhớ lại, trước khi ra đi, hai đứa ghé thăm bà phước, bà thầy cũ. Bà nói là bà sẽ cầu nguyện cho "hai đứa con được bình yên." Thăm cha sở, cha chúc lành cho cả hai đứa. Cha có dặn "khi nào về phép thăm nhà, nhớ ghé thăm cha."

Cuộc sống trong quân ngũ lại càng làm cho nó và tôi gắn bó với nhau. Ngày nào hai đứa cũng lo nhắc nhở nhau việc đọc kinh, đi lễ. Nhờ có nó mà tôi đỡ nhớ nhà, mà nó cũng vậy cho đến ngày hôm đó, khó mà quên được. Hôm đó đi hành quân, cũng hai đứa. Tiếng đạn hai bên bắt đầu chào hỏi nhau. Nằm cách nhau độ ba thước, nó làm dấu kêu tôi đọc kinh. Tiếng súng trao trả qua lại một hồi thì tôi nghe một tiếng "bịch", tiếng viên đạn chạm vào một vật mềm. Tiếng kêu quen thuộc khi viên đạn chạm vào phần mô đất, nhưng lại thêm tiếng la "Ối!" Tôi quay qua thì thấy nó bật ngửa ra. Tôi vội vả bò qua hố nó đang núp. Tôi thấy nhiều máu đang chảy ra từ thân thể nó, từ giữa ngực. Tôi biết ngay sự tình. Tôi ôm nó. Tôi biểu nó kêu Chúa. Không biết phải đọc kinh gì trong giờ phút cực kỳ nguy hiểm và cấp bách, tôi chỉ biết kêu "Giêsu Maria Giuse," tôi thấy miệng nó mấp máy theo tôi. Tôi cứ kêu. Tôi nghe tiếng nó đọc theo. Tôi cứ kêu. Nó có vẻ đau đớn lắm. Tôi còn kêu. Tôi không thấy nó kêu với tôi nữa. Đầu nó gục qua một bên. Hai tay nó đang ôm tôi từ từ buông ra...

Để đưa nó về quê, thượng cấp dành cho tôi được danh dự cùng đi với nó trở về quê. Tôi đã với nó từ cùng quê đến đây, nên tôi được vinh dự cùng đi theo nó trở về quê. Vinh dự đâu không thấy, chỉ thấy là tôi buồn quá, ngồi đầu cạnh bên quan tài của nó. Đó là ngày đầu tiên tôi biết nhớ nó.

Ngày ra đi thì hai đứa ngồi kế cạnh nhau. Chiếc xe nhà binh đưa đám lính mới lên đường, chạy vùn vụt. Xe đảo qua đảo lại, đám lính mới ngả qua ngả lại, vui cười. Lần này cũa chiếc xe nhà binh đưa hai đứa về. Hai đứa cùng trở về quê hương nhưng đứa ngồi đứa nằm. Hồi nào thì cùng đi với nhau, nay thì tự mình đi, đứa thì có người khiêng.

Nhớ lại lời cha dặn "khi nào về phép thăm nhà, nhớ ghé thăm cha" thì nay nó về, nó không ghé thăm cha nhưng cha đi thăm nó. Nó không đến chào cha, nhưng cha tìm đến chào nó. Cha đón nó ở cổng nhà thờ. Cha không còn chúc nó đi bình yên nữa, nhưng trong lời kinh, cha cầu xin và chúc nó được "yên nghỉ muôn đời trong Chúa!"

***

Cũng nhớ chuyện hồi xưa, lúc còn nhỏ, ngày 1 tháng 11 là ngày lễ Các Thánh Nam Nữ. Đó là dịp, ngoài ngày Tết, bà con công giáo đi đâu xa thường tìm cách trở về. Ngày 2 tháng 11 là ngày lễ "Các Đẳng". Đó là một ngày hội của những người còn sống và những người đã chết. Ngày đó, ai có đi đâu xa quê cũng ráng mà về, về để "thăm" những bà con đã chết. Ai mà không về được trong ngày này, sẽ bị người ta nói là ... đã chết.

Sáng ngày lễ "Các Đẳng" bà con đi vào Đất Thánh thật sớm. Trời còn tối. Lễ sáng sớm ở những ngày cuối năm làm cho những ngọn đèn cầy được đốt sáng thêm ý nhị: vừa đem lại ánh sáng, một thứ ánh sánh chập chờn, vừa đem lại chút hơi ấm, một thứ hơi ấm chỉ đủ làm ấm hai bàn tay. Lễ vừa xong thì mặt trời cũng vừa lên.

Ngày này tôi vào Đất Thánh để thăm ông bà, ba tôi đã nằm nơi đây. Gia đình nó mới về ở học đạo này nên đâu có bàn con thân nhân nằm ở Đất Thánh này. Gia đình nó theo gia đình tôi. Má tôi đi đâu là ba má nó theo đến đó, đi thăm "bên nội" xong tới "bên ngoại". Tôi chạy đi đâu là nó chạy theo đó. Nhờ đó, nó biết hết bà con tôi nằm đâu, để rồi năm sau thì nó lại ... dẫn tôi đi. Viết hết các mã rồi, hai đứa cùng với các bạn chạy rượt nhau chơi. Đường trong Đất Thánh nó không thẳng cũng không bằng, mà cong queo lại lên cao xuống thấp. Chạy chơi có nơi nào bằng ở đây, hơn nữa một năm chỉ có hai lần, dịp này và dịp Tết. Chơi ở đây rồi về, chớ còn ở lại thì ... không!

Không còn là chuyện của ngày xưa nữa. Chiến tranh thật tàn nhẫn. Rồi mấy đứa bạn mới quen khác cũng lại nằm xuống. Tôi thì cứ ra trận rồi trở về. Tôi cứ nghĩ đến cái ngày mà tôi sẽ được đưa về quê như nó. Nhưng không, tôi vẫn cứ còn đùa với tiếng súng đạn, với tiếng đại bác đêm đêm. Tôi còn nhớ rõ, năm năm sau ngày nó không còn, tôi cũng rời quân ngũ với tấm thân không còn lành lặn. Tôi trở về quê, trông có vẻ nguyên lành nhưng chân khập khểnh, đi cà chọt cà chọt.

Năm đó như thông lệ, tôi rán về thăm nhà vào dịp lễ "Các Thánh Nam Nữ" để rồi ngày hôm sau lại đi viếng mã. Ba má bà con của tôi phần đông đã trở thành "người của muôn năm trước," tôi đi một mình một cách khó khăn vào nơi nhiều kỷ niệm. Lúc này, tôi có thêm một địa chỉ mới để ghé thăm: mã của nó, của người bạn. Rồi lại nhớ: hồi đó, muốn gặp nó, tôi chỉ chạy băng qua hàng rào, giờ thì phải vào tận nơi đây. Sau khi thăm hết bà con, tôi ghé hơi lâu nơi mã của nó, chỉ có mình tôi. Tôi ngồi nhớ lại nhiều chuyện, nhất là cái chuyện của ngày mà tôi biết được thế nào là ... chết.

Gia đình nó sau khi dọn đến xứ tôi, đã lại dọn đi lên Sài Gòn đâu khoảng hai năm sau khi nó tử trận. Có còn ai đâu mà "viếng thăm " nó! Ngồi một mình, tôi nói chuyện với nó. Tôi nói: nếu hôm đó không phải là mầy thì biết đâu là tao? Còn ai thân với tôi hơn nó? Còn ai thân với nó hơn tôi? Còn nhỏ, còn sống tôi với nó ôm nhau vật lộn. Giây phút cuối, tôi ôm nó trong vòng tay rồi nhìn thấy nó thở hơi cuối cùng ...

***

Lần đó trở lại thăm quê hương, tôi cũng cố gắng tìm cách để về quê hương nhưng không còn như ngày nào. Đất Thánh đã bị giải thể! Không còn hình ảnh của những ngôi mộ cao thấp. Tất cả các mã đã bị san bằng, hài cốt được cho vào trong hủ, đặt trong nhà quàn trong "nhà thờ Đất Thánh" ngày xưa, nay được gọi là "nhà thờ mồ". Ai còn thân nhân con cháu thì có được cái hủ, có địa chỉ hẵn hòi, chẳng hạn như là A131, hay B008. Muốn tìm cho được cái hũ thì tra tên ở cái sổ lớn, đặt ở cửa vô nhà quàn, rồi cứ theo số đó mà đi tìm, ở dãy A, hay B, rồi tìm được cái hũ.

Sau khi thăm các hũ hài cốt của ông bà, ba má, bà con, tôi đi tìm nó. Tra danh sách ở nhà quàn, không có tên nó. Hỏi thăm người giữ nhà quàn thì anh ta cho biết:

- Nếu ông không thấy tên ở danh sách này thì kể như là không có hũ riêng rồi.

- Như vậy là có hũ chung hũ riêng nữa hả?

- Nhiều lắm ông ơi! Nhiều người không có ai là thân nhân họ hàng, nên hồi họ giải tán Đất Thánh mình, đào lên gặp nhiều bộ xương, không còn nhiêu, chỉ vài miếng, cha cho đem thiêu rồi để chung lại trong hũ lớn chú thấy ở đầu phòng đó.

Nghe vậy, tôi đoán liền là nó ở trong hũ lớn này, nếu không thì ở đâu bây giờ, và hy vọng là như vậy. Tôi đi đến hũ lớn đó, là "mồ" chôn những người không còn có thân nhân. Tôi dâng ít tiền để các cha dâng lễ cầu cho những linh hồn này, mà tôi tin là có nó trong đó. Tính vậy làm vậy, và để cho bảo đảm, tôi khấn mấy lời.

- Khôi! Tao về tìm thăm mầy mà không biết mầy ở đâu, nhưng chắc là mầy ở trong hũ này, mầy có biết tao về đây không? Giờ tao ở xa lắm, lâu lâu tao mới về được một lần. Ghé thăm mầy ở đây vậy chớ tao luôn luôn nhớ tới mầy ... Tuy là có xa xôi nhau quá nhưng đâu có phải là không nhớ được! Không phải là hằng ngày nhưng mỗi lần tao đi xem lễ, sau khi dâng Mình và Máu Thánh Chúa, cha đọc "cầu cho những người đã ra đi trước..." là tao có nhớ đến mầy, cùng với ông bà, ba má, anh tao. Tao sẽ vẫn nhớ tới mầy hoài cho tới khi tao không còn. Nhất là tháng 11 này, còn biết làm gì bây giờ, cầu nguyện cho mầy là cách tao nhớ tới mầy ...