Về Cùng Quê

Thật là điều sung sướng khi xa quê mà được gặp lại người cùng quê! Sau khi về ở họ đạo mới này, hôm đó đi lễ Chúa Nhật ra, tôi nghe tiếng kêu: “Chị mười! Chị mười!” Tôi nói với má tôi: “Có ai kêu má kìa!” Má tôi quay lại thì bà ấy chạy tới ôm má tôi:
     - Chời ơi, chị mười! Chị về ở đây hồi nào?
     - Được gần hai tháng nay rồi!
     - Vậy mà tui không thấy chị. Tôi ở đây cũng cả chục năm rồi đó. Tôi có “kiosk” bán bánh mì trước trường học nè. Chị cho biết nhà để hôm nào tôi ghé chị chơi. Còn thằng này thứ mấy đây?
     - Út!
     - Ủa, vậy nó là thằng Sáng đây phải không? Chèn ơi, lớn quá rồi. Mấy tuổi rồi con? Học được lớp mấy rồi?
     - Dạ mười lăm tuổi, con học đệ tứ ở đây.
     - Sáng đi học, ghé cô lấy bánh mì ăn, trưa thì ghé lấy nước uống, cô bán ở đây, có thiếu gì! Đừng có ngại, cô là bà con với ba chớ không phải ai xa lạ đâu!
Cô nói thêm:      - Ban ngày mà chị lên đây mà chị không thấy tui, gặp mấy cô làm việc ở đây, chị cứ hỏi “thấy bà mười bán bánh mì đâu không” là mấy cổ chỉ cho chị ngay. Tôi đi lanh quanh đâu đó.
     Tôi biết đó là cô mười, bà con họ cũng không xa lắm của ba tôi, mà là vai em. Cô mười xa quê đã lâu rồi, theo chồng đổi lên làm ở Sài Gòn. Ngay từ hồi dượng mười còn, năm nào cô mười cũng về quê. Mỗi lần như vậy cô đều ghé lại thăm ba má tôi, rồi má tôi sau khi ba tôi mất. Giờ thì dượng mười cũng đã mất. Gia đình tôi cũng đã rời quê. Mỗi năm cô với má tôi đều gặp nhau ở đất thánh, khi về quê thăm mã mồ.

***

     Hôm đó là lễ Các Thánh Nam Nữ, tại bến xe đò đi về quê tôi, tôi gặp không biết bao nhiêu là người quen biết. Ai cũng lo về vì mai là ngày lễ Các Đẳng. Người thì quen biết hay họ hàng bên nội. Người thì quen biết hay họ hàng bên ngoại. Không hẹn mà gặp, rất đông những người trong họ đạo trước đây. Ai cũng lo về để cho kịp sáng sớm ngày mai viếng ông bà.

      Thời đó ở nhà thờ chỉ có một lễ mỗi ngày, ngày Chúa Nhật cũng như ngày thường. Ngày lễ Các Đẳng, không có lễ ở nhà thờ. Tất cả bà con đi ra đất thánh. Trời còn tối đen, mới hơn 4 giờ sáng mà rải rác đó đây trong đất thánh người ta thấy lốm đốm ánh sáng của những ngọn đèn cầy. Ai đến đất thánh cũng đem theo đèn cầy. Trời còn tối, ánh sáng của những ngọn đèn cầy lấp lánh như “những ánh sao mai.” Ngoài trời thì làm sao mà có đèn điện, nên đem theo đèn cầy một là để đốt sáng, hai là để đốt dâng lên cho ông bà cha mẹ.

Bước vào đất thánh, tôi đã thuộc làu đường đi. Từ cỗng ngoài đi vô, có cây thánh giá bằng đá cao, ngay giữa đất thánh. Lễ cầu cho ông bà sẽ được cử hành trên bàn thờ bằng xi măng, ngay dưới chân cây thánh giá này. Đường đi trong đất thánh có hai lối rẻ chánh. Một rẻ qua phải là đi về phía nhà thờ gọi là Nhà Thờ Mồ, hay còn được gọi nhà thờ đất thánh. Trong nhà thờ đất thánh có hòm đựng hài cốt của hơn ba trăm đấng tử đạo. Một rẻ qua trái thì phần đất rộng hơn, và lại cao hơn, nhờ vậy mà khi trời mưa, nước chảy theo triền đất từ cao xuống, đi luôn ra ngoài ruộng nên đất thánh luôn luôn khô ráo. Xung quanh là cây rừng nên đất thánh lại có vẻ mát khiến cho nhiều người mơ ước được “nằm” ở đây: khô ráo mà lại mát mẻ.

Má tôi dẫn anh em tôi tới ngay mã ba tôi. Đứng ở đầu mã ba tôi mà tôi có cãm tưởng như đang đứng giữa vòng quanh của gia đình. Trên đầu mã ba tôi là mã ông nội tôi. Bên trái mã ông nội tôi là mã bà nội tôi, rồi mã mấy anh chị con nhà bác, rồi tới mã cô bảy tôi, tới mã ông bà cố, ba má của bà nội tôi. Dưới chân ông nội tôi là ba tôi, rồi dưới chân ba tôi là anh tôi mà chiến tranh đã làm cho anh sớm có “căn nhà” tại miếng đất buồn bả quạnh hiu này. Bên phía phải mã ông nội tôi là mã ông bà cố, ba má của ông nội tôi. Đi về hướng này, qua khỏi cây thánh giá giữa đất thánh một chút là mã ông bà ngoại tôi, rồi tới hai người cậu và một người dì.

Tôi cứ nhớ theo như má tôi kể lại: khi tôi mới vừa lửng chửng biết đi, nội tôi thường hay xách dù đi với bà nội tôi ra thăm tôi, tại nhà ba má tôi. Ông bà ngoại ở gần đó, rồi lại thêm hai cậu tôi kéo qua chơi, chơi với tôi. Tôi được đặt đứng giữa gia đình. Ba tôi buông tay tôi ra thì nội tôi kêu tôi. Tôi băng băng đi lại ông nội tôi. Nội tôi ôm tôi. Tôi vùng ra rồi đi lại cậu tôi, đi lại má tôi, đi lại anh tôi... Giờ thì tôi cũng đang ở giữa, giữa những người đã thương yêu tôi mà không nói được với ai một lời. Tôi đi theo má tôi, đốt ở mỗi đầu mã hai cây đèn cầy, đặt ở giữa ít nhánh bông, rồi tôi đốt ở mỗi mã ba cây nhang, để theo khói nhang bay lên cao, lòng tôi hướng lên ông, bà, ba, anh tôi mà tôi nghĩ và mơ ước là họ đang ở trên cao đó. Tôi khấn thầm: Nội ơi! Con về thăm nội! Ba ơi! Con về thăm ba!...

Ngồi ở đầu mã ba tôi, tôi thấy như gặp lại hết bà con họ hàng. Tôi cảm thấy tôi đang thực sự trở lại quê hương. Tôi thấy như quê tôi không phải là tháp nước cao, to nằm ngay con đường đi vào tỉnh lỵ mà mỗi khi từ Sài Gòn về, mọi người đều phải đi ngang qua đó. Quê tôi không phải là dòng sông mang tên sông Dinh, nước chảy đen xì mà để vào tỉnh lỵ, mọi người phải băng ngang qua đó. Quê tôi không phải con đường nhựa lớn, con đường chánh lộ chạy băng ngang qua thành phố mà những ngày cuối tuần xe cộ dập dìu qua lại. Quê tôi chính là đây, vì ở đây tôi “gặp” lại ông bà tôi, ba tôi, anh tôi, họ hàng tôi.

***

Hôm đó, chiều thứ bảy 3 tháng 5, 2008, tôi đến nhà thờ của giáo xứ Việt Nam để dự lễ an táng của một người bà con. Tôi với nó là anh em chú bác ruột nên gặp nhau đây, hai đứa là người cùng quê. Ngang tuổi nhau, cứ luôn miệng gọi nhau là mầy tao nên người ngoài nghe thường không biết được “đứa nào vai anh, đứa nào vai em.” Ở xứ lạ quê người, gặp người cùng quê đã là sung sướng rồi, lại còn là bà con nữa, nên sự ra đi của nó đem lại cho tôi một sự mất mác lớn, làm cho tôi thấy chạnh lòng.

Mọi việc gia đình đã định liệu đâu ra đó rồi, vậy mà tôi cứ lẩm cẩm nghĩ: Không biết vợ con nó có đem nó về quê không. Xa xôi quá, tốn kém lắm, vả lại bên đó có còn ai! Nhìn quan tài của nó đặt giữa nhà thờ, tôi mơ màng nghĩ tới những lần tôi đã về quê.

Ba tôi mất khi tôi mới có ba tuổi, lúc đó còn ở dưới quê. Lần đầu tôi về quê như vậy là để đưa anh tôi về. Chiến tranh đã không cho phép anh tiếp tục lo cho mấy đứa con của anh, để tụi nó ghi thêm lên tên mình hai chữ “mồ côi.” Lần kế tôi theo má tôi đưa cô mười bán bánh mì về. Căn bệnh ngặt nghèo đã ngăn chận không cho cô được hưởng cái sung sướng được ẳm bồng cháu nội, cháu ngoại mà cô mong ước. Lần cuối là lần tôi đưa má tôi về. Sau khi làm xong nghĩa vụ người mẹ với mấy đứa con côi, má tôi đã vâng theo “tiếng gọi”, phủi tay ra đi. Má tôi, anh tôi, cô mười đã về quê, về để yên nghỉ ngàn thu ở đó, để đợi hằng năm hai lần tôi trở về thăm, một lần dịp lễ Các Đẳng, và một lần dịp Tết.

Cha bước ra bàn thờ để cử hành thánh lễ. Tôi cảm thấy giây phút thực sự vĩnh biệt sắp bắt đầu. Tuy chỉ còn đây trong quan tài, tôi vẫn thấy như em họ tôi nó vẫn còn đây. Không thấy được nó nhưng tôi còn thấy cái quan tài. Trong cái quan tài, tôi biết có nó dù rằng không còn nói được gì với nhau nữa. Tôi cảm thấy nó còn đây, giữa vợ con nó, anh em nó và tôi, người anh họ. Tôi nghĩ lung tung. Cha giảng. Tôi cố gắng nghe:

“Kính thưa quí ông bà anh chị em: buồn quá mà thưa chi hoài cha ơi! Tôi xin thành thật chia buồn cùng..: cha có chia mấy cũng không thấy bớt buồn! Sự ra đi của ông Phêrô trong những ngày này khiến cho tôi liên tưởng đến một sự về quê, mà ai trong chúng ta rồi đây cũng sẽ có một ngày. Hôm nay, chúng ta tiễn biệt ông Phêrô, rồi ngày mai chúng ta mừng lễ Chúa Thăng Thiên, Chúa về trời. Chúa về trước ở đó, rồi chúng ta sẽ về sau, ở một ngày không ai trong chúng ta biết trước được như Chúa đã nói: Thầy sẽ về để dọn chỗ trước cho các con! Chúa dọn cho chúng ta một chỗ ở trên nước Trời, ở đó ta sẽ được hưởng phúc vĩnh cửu. Chúng ta tạm chia tay nhau hôm nay. Chúng ta sẽ tạm xa rời nhau và hẹn gặp lại nhau ở quê chung đó. Trong cuộc sống hôm nay, mọi người trong chúng ta phải hướng về quê hương “thật và vĩnh cửu” đó...

Cha nói dài hơn. Tôi đã rán nghe và nhớ lại được bấy nhiêu đó bởi làm sao mà nhớ lại được hết mọi lời của cha, nhưng cũng đủ thấy thắm thía. Thì ra, tất cả chúng ta là người cùng quê. Tôi và em họ tôi sẽ về cùng quê. Giờ lớn tuổi rồi, không mầy tao nữa, tôi nói thầm: Thôi chú đi trước, rồi cũng sẽ đến lượt tôi. Cầu xin sao cho được gặp lại nhau nơi quê hương chung đó. Không phải gì riêng tôi với chú, mọi người chúng ta đã được dành sẵn nơi ở, về được hay không là do mình. Phần tôi, tôi cố gắng. Phần Chúa, xin Chúa thương. Tôi nguyện sao cho lời cầu của tôi được Chúa thương chấp nhận: cho chú được về quê thật đó!