Về Hòa Bình

Trong ý chỉ cầu nguyện tháng 1 năm 2015 của Đức Giáo Hoàng, về ý chung có câu: “Cầu cho những thành viên thuộc các truyền thống tôn giáo khác nhau và tất cả mọi người thiện chí biết cùng nhau xây dựng nền hoà bình.”

Lấy ra hai chữ “hòa bình” để nói chuyện … hoà bình. Làm chuyện chơi chữ, xét hai chữ “hòa bình” bằng cách tách rời hai chữ “hòa” và “bình”.

Hòa là gì, thật tình tôi không định nghĩa được một cách rõ ràng, chỉ thấy và nhớ rằng người Nam nói là huề, nghĩa là không hơn thua nữa. Trận đấu thể thao mà huề là trận đấu bất phân thắng bại, không có bên thắng bên thua, tỉ số trận đấu bằng nhau. Hai đứa trẻ “tranh chấp” nhau, khi đã nói lên tiếng huề rồi thì thôi, cặp cổ nhau đi về, không còn cải vả, không đấm đá nhau nữa.

Đi đôi với chữ hòa, ta biết những chữ rất ư là … hòa như: hòa thuận, hòa hợp, hòa giải, để nói ý nghĩa của cái hòa mà ta đang muốn nói tới, và dĩ nhiên là có hòa bình.

Nói tới chữ “bình” mà có thể đi đôi với “hòa”, ta thường nghe nói tới là bình an hay bình yên. Nhưng bình an hay bình yên cũng có năm bảy loại: bình an tạm bợ, bình an thật, bình an vĩnh cữu. Một cái bình an nữa mà nhiều người ước mong là bình an trong tâm hồn. Đó là một thứ bình an mà không phải có tiền là có được. Nhiều người nhiều tiền nhiều bạc, mà ngay cả trong thời kỳ không có chiến tranh, vẫn không tìm được sự bình an trong tâm hồn. Có phải chăng vì vậy mà chúng ta được mời gọi chúc bình an cho nhau.

Bây giờ ghép hai chữ lại để có “hòa bình.” Người ta kêu gọi hòa bình. Người ta có nhiều cách để định nghĩa hòa bình, chẳng hạn như: Hòa bình là trạng thái xã hội không có chiến tranh, không dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp trong quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, các nhóm chính trị xã hội. Hòa bình đối ngược với chiến tranh. Trong xã hội có nhiều chính đảng, hòa bình cũng được mô tả là mối quan hệ giữa các đảng phái trong sự tôn trọng lẫn nhau và theo công lý. Trong một cộng đồng, hòa bình được xem là sự hòa thuận với nhau giữa các nhóm người, không có những lời nói dèm pha. Nhìn chung hòa bình thường không liên tục, luôn bị gián đoạn bởi các cuộc chiến tranh.

Khi chấp nhận “hòa” rồi thì anh buông súng, tôi buông dao. Anh chẳng bắn giết tôi, thì tôi cũng chẳng giết hại anh. Khi đó, anh chẳng còn lo sợ bị tôi giết, mà tôi cũng chẳng còn lo sợ bị anh hại. Thôi không đấm đá nhau, không sợ chết nhưng nếu anh còn “nói” thì cũng chưa hẳn là có hòa bình.

***

Thật ra, nói hay viết ra hai tiếng hòa bình thì dễ, nhưng tạo ra được hòa bình không phải là chuyện dễ làm. Và khi hòa bình được lập nên, một vấn đề to lớn khác là duy trì hòa bình, giữ cho hòa bình được kéo dài.

Lịch sử nhân lọai cho thấy đã có nhiều lần trên thế giới này, có những vị đã đem lại được hòa bình cho những vùng tranh chấp. Trong buổi triều yết chung hôm thứ Tư 12/11/2014, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc nhớ kỷ niệm 30 năm hiệp ước hòa bình được Chilê và Á Căn Đình ký kết vào ngày 29 tháng 11 năm 1984 tại Vatican.

Vào năm 1978, cả hai quốc gia đang ở bờ vực chiến tranh do tranh chấp lãnh thổ Beagle. Tuy nhiên, Đức Gioan Phaolô II đã làm trung gian hòa giải cho cuộc xung đột và sau nhiều năm đàm phán, hai nước đã thoả thuận được đường biên giới cụ thể.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Tôi vui mừng chào đón các nhóm quân nhân Chilê. Trong những ngày này chúng ta kỷ niệm 30 năm ngày ký kết hiệp ước hòa bình giữa Á Căn Đình và Chilê. Đường biên giới giữa hai nước hiện nay đã rõ ràng. Chúng ta sẽ không tiếp tục phải chiến đấu tại biên giới; chúng ta sẽ chiến đấu vì những điều khác, nhưng không vì đường biên giới nữa.

Nhưng có một điều tôi muốn lưu ý: điều này được thực hiện nhờ vào thiện chí đối thoại. Chỉ có thiện chí đối thoại mới có thể giải quyết vấn đề. Tôi muốn nêu lên lòng biết ơn thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Hồng Y Samore, những người đã làm rất nhiều việc để đạt được hòa bình giữa chúng ta. Cầu cho tất cả những người dù phải liên quan đến bất cứ loại xung đột nào, dù là biên giới hay văn hóa, đều có thể được khích lệ giải quyết xung đột trên bàn đối thoại chứ không phải trong sự tàn bạo của chiến tranh”.

Những vị như thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Hồng Y Samore đã lo cho hòa bình ở miền Nam Mỹ là những người đã đứng lên vì quyền con người và sự phổ biến các nguyên tắc hòa bình và sự đoàn kết trên thế giới, có những đóng góp xuất sắc cho công bằng xã hội và hòa bình quốc tế. Điều này làm cho ta nhớ lại bên phía trời đông, tại quê nhà Việt Nam, một người cũng đã đứng ra làm một việc là đem lại an bình cho hằng triệu người. Những người này, tuy chưa hẳn có được hòa bình, nhưng có được sự bình an, bình an để làm việc và bình an để giữ đạo, và nhất là bình an để sống.

***

Trước đó, tuy chiến tranh không ở mức độ cao, nhưng hai chữ hòa bình không được nhiều người hiểu nghĩa. Hòa bình thế nào được khi mà trời vừa sụp tối là không được đi ra khỏi nhà. Nhà nào cũng lo cửa đóng then gài. Đi lễ sáng phải đợi sau 5 giờ, trời vừa rựng sáng và khi mà các cỗng rào bằng kẻm gai chận ngang các con đường đi được mở ra. Cho đến ngày đó, nhiều người không “cảm” được ý nghĩa của câu hát “Nửa đêm mừng Chúa ra đời” khi đón mừng lễ Giáng Sinh, và dĩ nhiên lễ đêm không được bàn tới.

Chuyện nhớ lại, dỡ khóc dỡ cười. Vừa tối trời, cơm nước xong, nhà ai cũng tụ lại lo đọc kinh tối. Mới được vài ba kinh, chưa kịp đọc “amen” thì nghe tiếng súng đùng đùng: Việt Minh tấn công đồn Tây. Lính Tây bắn trả lại. Họ bắn đâu? Họ bắn bừa vào những nhà mà họ thấy có ánh đèn lấp lánh. Để có được “yên”, phải chun xuống ầm núp được làm trong nhà, nằm dưới hầm núp cho đến khi không còn nghe tiếng súng mới dám mò lên.

Trong nhiều năm như vậy, bao lâu, không biết. Có từ hồi nào? Có từ khi tôi biết việc chun xuống hầm núp để tránh đạn. Chuyện kéo dài cho đến năm 1954, thế giới và nhất là người dân Việt chứng kiến sự kiện hằng triệu người từ Bắc di cư vào Nam. Bà con ta đi vào Nam để tìm bình an. Bình an đây là sự an toàn của mạng sống và được tự do đi đến nhà thờ, yên ổn giữ đạo, và làm ăn. Rồi sau đó cũng mấy năm, tôi và bà con tôi, chúng tôi thấy có hòa bình.

Bà con từ Bắc vào đã sung sướng hưởng một nền hòa bình, không còn sợ bị bắn từ sau lưng, được tự do đi đến nhà thờ, được tự do làm ăn buôn bán. Nhiều ngôi thánh đường được xây cất, mang tên để gợi nhớ lại quê hương xa vời như giáo xứ mang tên Bùi Phát … Và cũng từ đó, bà con miền Nam bắt đầu làm quen với … phở.

Tính ra đến nay đã là 60 năm kể từ ngày có cuộc di cư vĩ đại đó. Cho đến ngày đó vào năm 1954, tôi và nhiều người mới biết và hiểu được nghĩa của hai chữ “di cư”. Từ ngày đó cho đến bây giờ, khi nhắc lại biến cố lịch sử này, người người nhớ đến và ghi ơn vị tổng thống của nền đệ nhất cộng hòa: Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm. Ông đã có công tìm sự giúp đỡ để lo cho cả triệu người rời bỏ quê hương, đi từ Bắc vào Nam để được sống bình an, để có thể lo an cư và lạc nghiệp, và để giữ đạo. Ông đã hiến cuộc đời mình để lo cho tha nhân. Quả thật, ông xứng đáng để được người đời ca tụng là người công chính. Ngoài ra, ông đã hành xử mọi việc trong đời mình một cách công minh, chính trực đáng để người đời ca tụng là bậc chính nhân quân tử.

Thời đó, tôi và nhiều người như tôi, không có đủ trình độ để nhận định một cách sâu sắc thời cuộc, chỉ thấy được sống thoải mái và bình yên là thấy sung sướng rồi.

Đó là thời kỳ nay đã cách xa rồi, thiết nghĩ khi đó nhiều người trong chúng ta còn nhỏ, nay nói tới chỉ là để nhớ lại, và có nhiều người khi đó chưa có, thì lấy gì mà nhớ lại, thôi thì bắt đầu biết từ nay. Và cũng có nhiều người như tôi khi còn nhỏ, chưa hiểu biết nhiều nhưng cũng còn thoáng nhớ đôi nét về cái thời kỳ bình yên đó của đất nước.

Muốn đi đâu thì đi, đi lúc nào cũng được, không có ai ngăn chận, cấm đoán. Năm đó, để mừng Chúa ra đời, để hát lễ khuya, cha tập hát tới … khuya. Trong nhiều ngày như vậy, mấy anh chị đi tập hát ở nhà thờ, tụi tôi còn nhỏ, cũng chạy theo … coi. Coi cha cầm cây “roi” đưa lên đưa xuống, cha ngả qua ngả lại, cha chỉ tay lên cao, cha hạ tay xuống hấp. Trước giờ có khi nào được thấy như vậy. Để hát cho “tròn tiếng”, cha “biểu diễn” cho mấy anh chị coi: miệng phải làm như vầy, như vầy. Anh chị làm theo, tụi tôi tức cười quá. Tụi tôi cười. Tập xong, cha đãi anh chị bánh “bít qui” vì có công tập hát. Tụi tôi có công ngồi coi, cũng được … thưởng. Rồi ra về, đi chung với mấy anh chị cùng xóm, tụi tôi đi ở giữa nhóm, không sợ giặc nhưng sợ … ma. Một niềm vui bình thường của thuở bình yên.

***

Chúng ta vừa mới mừng đại lễ Giáng Sinh, mừng kỷ niệm ngày Chúa xuống thế làm người. Chúng ta hát

Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm

Xin Chúa thương ban cho thế giới con được hòa bình, ít ra cho người “thiện tâm”. Người thiện tâm đó là những người đang chạy trốn những kẻ khủng bố đang ra tay giết hại dân lành, con trẻ. Người thiện tâm đó cũng là những người đang mong chờ miếng ăn, áo mặc. Khi nhắc lại hòa ước hòa bình giữa Chilê và Á căn đình, Đức Giáo Hoàng có nói: “chúng ta sẽ chiến đấu vì những điều khác”. Điều nào khác nữa mà Đức Giáo Hoàng muốn nói ở đây? Chúng ta hãy cầu nguyện theo ý ngài.

Có được bình an trong một thời gian tại quê hương, chúng ta hãy tri ân người đã nằm xuống mà đã có công đem lại bình an cho quê hương. Xin Chúa ban bình an vĩnh cửu cho linh hồn Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm, người đã có công đem lại bình an cho nhiều người nhưng không được hưởng bình an đó. Xin Chúa cho ông được hưởng bình an vĩnh cửu trên cõi Trời!

Xin chúc tất cả chúng ta được bình an, nhất là bình an trong tâm hồn.