Linh mục Võ Thành Trinh

Bài này tôi viết, không phải để nói về tiểu sử của một người, một linh mục hay một nhà cách mạng. Tôi muốn viết về một tên gọi đã được đồng hóa với một danh từ:

linh mục Võ Thành Trinh = linh mục "quốc doanh"

Ngày đó (do không quan tâm, tôi không biết là ngày nào, nhưng chắc chắn là có, vì đã xảy ra), các linh mục, tu sĩ và bà con theo đạo Thiên Chúa đi "tham gia cách mạng" trở về miền Nam, trong số đó có linh mục Hồ Văn Biên, linh mục Võ Thành Trinh, ông Năm Đông ...

Thực ra không phải chỉ có bấy nhiêu vị đó đã tham gia kháng chiến, nhưng các vị khác đã rời bỏ hàng ngủ từ lâu. Họ đã mang tiếng là "bỏ cuộc", đã bị lên án là "phản bội" ... Trong số trở về lần nầy thì có cha Võ Thành Trinh là nỗi tiếng hơn cả. Cha đã trở về để:
- lãnh đạo Công Giáo miền Nam? Không, vì tại miền Nam các vị lãnh đạo tinh thần vẫn còn đó;
- giúp chánh quyền Cộng sản dễ dàng can thiệp vào nội bộ, vào các sinh hoạt của Công Giáo. Điều này đúng! Cộng sản, qua cha, đã danh chánh ngôn thuận "đứng" vào hàng ngủ của Công Giáo, để nói lên tiếng nói của đồng bào theo đạo Thiên Chúa, của những người "biết kính Chúa yêu nước".

* Cha trở về miền Nam, về "quê mẹ", về nơi mà cha còn có thân nhân họ hàng đang trông chờ cha về để làm con "ngáo ộp" che chở cho họ dễ làm ăn trong giai đoạn mới của đất nước, nơi mà còn có nhiều người đã "biết", đã sinh hoạt với cha thời Thanh Niên Tiền Phong:

"Năm đó, cha Luật bị giết ở Lương Hòa sau khi đi ra Bắc để gặp chủ tịch Hồ Chí Minh về, lần lần, linh mục, tu sĩ và giáo dân rời bỏ hàng ngũ kháng chiến. Tại một họ đạo thuộc tỉnh Long Xuyên, hồi đó trước 54, tại đây là khu vực kháng chiến, xa "tầm tay" của Pháp, gọi là vùng tự do, hôm đó, một chiều thứ bảy, sau khi anh em phụ lo làm máng cỏ chuẩn bị lễ Giáng Sinh ở nhà thờ về, anh A. trở về nhà tắm rửa thì tên X. tới, y hỏi thăm anh về mấy bức tranh quí treo ở nhà trên lúc đó chỉ có mình anh với y. Chợt một lát sau, anh em nghe tiếng chuông báo tử, ai nấy vội vả chạy lên nhà thờ thì mới hay là anh A. vừa mới bị giết: anh đã bị đánh bễ đầu và bị đâm một cây nhọn từ sau lưng trổ ra trước ngực. Ai cũng biết X. là người của cha Trinh mà anh A. thì đã có lần tranh cải với cha Trinh về cái chết của cha Luật, về chủ nghĩa cộng sản..."

* Cha trở về miền Nam, nơi đang có một số người đang trông chờ cha, chờ một người như cha để họ có được tấm bình phong hầu dễ bề tiếp tục "đấu tranh". Cha quả đã trưởng thành trong "khói lửa", trong đấu tranh, cha quả đã có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này. Vừa sau 75, có lẻ tư tưởng đấu tranh đó còn sôi sụt trong cha khi mà chiến tranh mới vừa chấm dứt nên khi về miền Nam, tư tuởng được bộc lộ trong những phát biểu của cha còn sặc mùi "đấu tố". Có còn ai đâu mà đấu tố, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình hay Đức Giám Mục phụ tá Phạm Văn Nẫm thì đã già nua, chỉ âm thầm và lặng lẻ lo việc bổn phận của mình trong sự kềm chế của chánh quyền nên chỉ còn có một cái tuy nó xa xôi mà gần, tuy nó vô hình mà cụ thể, cha đấu tố Giáo Hội, Đức Giáo Hoàng: những "tội lỗi", những sai trái của Giáo Hội thời phong kiến cha đã thuộc nằm lòng qua các bài học chánh trị mà cha đã thấm nhuần.

Cha đã nhiều phen lên tiếng phát biểu đả kích đường lối của Giáo Hội, tính chất phong kiến, cổ hủ của Giáo Hội. Một lần, cha P. trong hội đồng tư vấn của Tòa Giám Mục đã mạnh dạn lên tiếng: "Thưa cha Trinh, những điều mà cha đã nói quả tình đúng chớ không sai chút nào, nhưng xin lỗi cha, nó đúng nhiều là hồi trước 54 khi mà cha còn chưa đi tập kết và nhất là trước khi có Công Đồng Vatican II..." Sau buổi họp đó, cha Trinh có tìm gặp cha P. để hỏi và mượn tài liệu về Công Đồng Vatican II. Sau khi đọc xong, cha đã gặp lại cha P. và nói: "Thật tình cám ơn cha về tài liệu cha đã cho tôi mượn, nhờ cha đã nói mà lần đầu tiên tôi nghe về Công Đồng và nhờ tài liệu cha cho tôi mượn tôi mới hiểu qua tinh thần của Công Đồng và tôi xin lỗi các Đức Giám Mục, các cha về những lời phát biểu của tôi trước đây..."

Cha đã làm được gì trước cái ngày đó, một ngày trong tháng 7 năm 1991?

- Cha đã đem "ánh sáng" của triết lý Mác-Lênin giới thiệu sâu rộng vào các thành phần từ linh mục, tu sĩ đến giáo dân ở miền Nam. Điều này đã khiến cho nhiều người thắc mắc: trong cha giáo lý Công Giáo và triết lý Mác-Lênin, cái nào trọng, cái nào khinh?

- Cha đã nhiều lần đứng ra can thiệp vào những chuyện riêng tư của những cá nhân chạy đến cầu cứu với cha khi họ "có vấn đề" với các họ đạo.

- Về Nam, cha đã lập ra "Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước" và tờ báo "Công Giáo và Dân Tộc". Qui tụ bên cạnh cha, có thể nói cách khác là dưới trướng của cha, hay còn có thể nói khác hơn là núp bóng cha, người ta thấy ngoài các người từ miền Bắc trở về còn có những người "nằm vùng" trước đây và đặc biệt các bộ mặt quen thuộc: Trương Bá cần, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, ...

- Cha đã giúp đỡ các họ đạo dễ dàng có được những sinh hoạt tôn giáo thuần túy như đi kiệu trong khuôn viên nhà thờ, tổ chức tuần tĩnh tâm cho giáo dân, có cha "khách" tới giảng miễn là cha phụ trách các họ đạo đó có tham gia vào các sinh hoạt của cha và các cha khách là các cha nằm trong danh sách đã được chọn lựa. Các vị linh mục hoạt động trong "quỷ đạo" của cha đó đã được gọi là "linh mục quốc doanh". Đó là những linh mục "thích" nói về chủ thuyết cộng sản, triết lý Mác-Lênin hơn là giảng về Phúc Âm. Đó là những linh mục hưởng ứng nhanh chóng và mạnh mẻ các thông báo của đãng và nhà nước. Đó là những linh mục sẵn sàng làm bất cứ cái gì có lợi cho cộng sản, dù là ở tại quê nhà hay hải ngoại. Đó là những tay sai của cộng sản đã âm thầm hoạt động cho cộng sản từ bao lâu nay, nay "cháy nhà lòi ra mặt chuột".

* Cái ngày đó trong tháng 7 năm 1991: cha Phêrô Võ Thành Trinh nằm xuống. Cha đã trở về lòng đất mẹ ở cái tuổi 76 để lại nhiều suy nghĩ trong lòng người:

- Khi Đức Hồng Y Etchegaray qua Việt Nam, cha đã một lần, đặc biệt chỉ có mỗi một mình cha làm việc đó: cha đã quỳ xuống ôm hôn chân Đức Hồng Y, vị đại diện của Đức Giáo Hoàng. Việc làm này của cha mang ý nghĩa gì: Tạ tội? Thần phục? Kính trọng?

- Kính trọng lắm thì như với "bác Hồ muôn vàn kính yêu", cha cũng chỉ đến "ôm hôn thắm thiết" là cùng!...

- Sau 75, cha trở về miền Nam trong dáng vóc của một người nông dân chất phác, trông thật đầy vẻ "cách mạng". Cha có tác phong và cách ăn nói thật sặc mùi cán bộ nhà nước, thỉnh thoảng điểm thêm vài giọng nói Bắc cho đúng vẻ "con nhà": thế à, căng lắm ... Cha đã để lộ sự yếu kém của mình với một mớ kiến thức xưa cũ mà cha đã có được trước 54 cọng với sự trưởng thành trong hơn 20 năm sống ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa chậm tiến, làm sao cha có thể "chế ngự" được những "con ngựa bất kham" như Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh... Do đó, trong Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước, tuy cha là chủ tịch, là người đứng đầu bởi cha là người "có thành tích" hơn, là người được tín nhiệm với đãng hơn, nhưng "vẽ chân cho rắn, vẽ râu cho rồng" chắc chắn không phải là cha. Vô tình, do sự yếu kém và bản chất thật thà, cha đã trở thành tên bù nhìn trong tổ chức của cha. Cha đã là tấm bình phong, đứng ra che cho những người có nhiều tham vọng hoặc đã lở "có vương mang" dễ bề hoạt động:

* Linh mục Phan Khắc Từ:

- đã nổi tiếng với danh hiệu là "linh mục hốt rác" trước đây, vì đã tự nguyện làm công nhân hốt rác ở Sở Vệ Sinh, với mục đích gì?
- đã tham gia phong trào đấu tranh của công nhân hãng "Pin Con Ó" ở quận 6 cùng với 5 linh mục khác, rồi khi cảnh sát tới giải tán đám công nhân biểu tình, 6 linh mục cương quyết "ngồi lì" lại và đòi Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình phải đích thân đến lãnh mới chịu về! Thế rồi cảnh sát "hốt" các ngài lên xe thì các ngài lại đòi được trả về Tòa Tổng Giám Mục, cuộc tranh chấp không được giải quyết. 6 linh mục này muốn "lôi" Đức Tổng Giám Mục Bình vào cuộc với mục đích gì?
- những ngày đầu sau 75, đã đi tuyên truyền cuộc sống đạo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, chính sách của đãng đối với vấn đề tôn giáo ở các họ đạo tại Sài Gòn, để cho bà con yên tâm mà giữ đạo theo lối mới: kính Chúa, yêu nước, mà yêu nước tức là yêu xã hội chủ nghĩa!
- đã dùng "tòa giảng" trong nhà thờ để thay vì rao giảng lời Chúa, đã giải thích triết lý Mac-Lênin, tính cách siêu việt của chủ thuyết này! Người ta biết được một lần đó, ngày Chúa nhật, tại nhà thờ Vườn Xoài ở đường Trương Minh Giảng (cũ), ông ta đã dùng toàn bộ lời giảng để nói chủ thuyết Cộng sản. Khi bài giảng chấm dứt, ông ta quay lưng lại để bước lên bàn thờ thì một thanh niên đã chạy lên chụp micro và lớn tiếng nói: "Yêu cầu ông linh mục đừng tuyên truyền cho Cộng sản trong nhà thờ nữa. Chúng tôi đến đây là để được nghe lời Chúa..." Linh mục Phan Khắc Từ đã quay lại hỏi: "Anh tên gì?" Thanh niên đó đã nói rõ họ tên và cho cả địa chỉ! Nhục-vinh, phải-trái, ai biết ai?
- đã đi sai con đường, đã khoác không đúng lên mình chiếc áo dòng, chọn tu hành mà lại còn trót "vương mang", làm linh mục mà không lo tận hiến để phục vụ Giáo Hội, phục vụ đạo giáo, trót đã lỡ lầm thì thôi phải đành tiếp tục làm thân trâu ngựa phục vụ cho chế độ để bảo vệ thanh danh!

* Linh mục Trương Bá Cần:

- tên thật là Trần Bá Cường. Đây đúng là một "vị tướng không có quân", làm một linh mục không phụ trách họ đạo, không có giáo dân mà chỉ có các "đồng chí";
- đã từng có tư tưởng chống đối Giáo Hội khi còn theo học ban Sử tại Đại Học bên Pháp, đã được các linh mục du học cùng thời xác nhận;
- đã từng tham gia các phong trào "đấu tranh" trước 75, đặc biệt các phong trào, đoàn thể hay cá nhân nào chống lại Giáo Hội hay cụ thể là chống Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình là ông ta sẵn sàng hưởng ứng, ủng hộ, xúi giục;
- đã sớm xuất hiện trong hàng ngũ Cộng sản trong "Mặt Trận Tổ Quốc" bên cạnh những người theo Cộng ngư giáo sư Lê Văn Thới, Châu Tâm Luân, Lý Chánh Trung...
- sau 75, nắm được tờ báo "", đã nhiều lần lợi dụng cơ quan ngôn luận này để bài bác Giáo Hội, đả kích Đức Giáo Hoàng mà ông ta đã chỉ gọi gọn là "Giáo Chủ". Đặc biệt, sau 75, dưới chế độ Cộng sản, chế độ vô thần, tại Sài Gòn một dạo đã có một ý kiến chủ trương "Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Tự Trị" nghĩa là thành lập Giáo Hội ly khai, không thần phục La Mã theo kiểu Trung Quốc mà người chủ trương đó chính là Trương Bá Cần và nhóm của ông ta, nhưng đến nay, mộng đó chưa thành!

* Linh mục Huỳnh Công Minh

- thuộc giáo phận Sài Gòn, được cho đi Pháp du học rồi sau ngày trở về Việt Nam đã được liệt vào hàng ngũ "cấp tiến", một loại cấp tiến lạ kỳ có tính cách lập dị;
- đã từng tham gia các phong trào đấu tranh trước 75 như vụ hãng Pin Con Ó;
- một con người lầm lầm lì lì nhưng rất nhiều tham vọng, lần đi Pháp lối năm 1990, khi trở về đã sắm sẵn "áo nhẫn gậy mão" (những vật dụng của Giám Mục). Bao giờ thì Cộng sản sẽ áp lực để Huỳnh Công Minh được phong làm Giám Mục đây?!

Danh sách "linh mục quốc doanh" còn dài trong đó:

- nhiều vị đã lỡ "nhiễm thế" mà tì vết không làm sao xóa được trong hồ sơ lý lịch của công an Cộng sản;
- nhiều vị do có tham vọng muốn làm người "nổi";
- nhiều vị đã được Cộng sản chuẩn bị từ lâu!

Tuy nhiên trong danh sách này, ta cũng nên biết có một số linh mục, do chủ trương "không vào hang hùm sao bắt được cọp con", đã tự nguyện tham gia vào đội ngũ của Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước (nay đã đổi tên).


Linh mục Võ Thành Trinh đã nằm xuống. Cha mới đích thực là "quốc doanh" thứ thiệt. Không cần "cầu chứng" tại tòa, nhãn hiệu "nhà nước" hay "cách mạng" của cha được mọi người thừa nhận. Dẫu gì, cha cũng đã thật sự trải qua cuộc đấu tranh. Cha đã sống trong bưng biền. Cha đã "ngủ bờ ngủ bụi". Cha đã trốn tránh bom đạn. Cha đã được đãng và nhà nước Cộng sản đào luyện cho một ngày về. Bản thân cha, cha cũng mong "ngày về" đó, vì ai đi đấu tranh mà không mong một ngày về vinh quang.

Ngày về vinh quang đó của cha đã đến với cha. Cha đã sung sướng, như cha đã nói, được trở về để thấy lại bà con họ hàng, bạn bè thân thích và nhất là được thấy lại miền Nam, nơi cha đã sinh ra và đã sống, được thấy lại các ngôi thánh đường không bị hư hao, và nhất là được thấy đồng bào còn giữ đạo "tốt", đạo được phát triẻn "tốt"!?

Chúng ta phải chấp nhận chia vui cùng cha ở cái ngày về đầy vinh quang đó của cha. Cha vui sướng được hướng dẫn, phổ biến cho đồng bào thấy được những tri thức mới của loài người, những tiến bộ, những cái "ưu việt" của chủ nghĩa xã hội. Đó là ước vọng của cha. Đó là kế hoạch của đãng.

Cha đã nằm xuống. Chắc hẳn những cơn dày vò của cơn bạo bệnh đã làm cho cha đau đớn nhưng cha đã mãn nguyện vì cha đã được thấy và cha đã làm.

- Cha đã thấy đất nước được hoàn toàn giải phóng trong "tư tưởng cách mạng" của cha.
- Cha đã thấy là cha đã lầm:

- thân nhân họ hàng đã không quá nghèo khổ ngu dốt dưới chế độ Mỹ-Ngụy như cha đã được học, dân chúng ở miền Nam có học thức cao hơn, văn minh hơn đồng bào ở miền Bắc;
- những người bên cạnh cha không tốt, họ chỉ là những người muốn thỏa mãn tham vọng cá nhân, nhưng cha không làm sao chế ngự được những "con ngựa bất kham" đó khi mà lần hồi họ đã trở thành công cụ tốt cho Cộng sản, tốt còn hơn cha nữa;
- Giáo Hội đã hoàn toàn thay đổi, không như cha đã hiểu và cha đã được bôi nhọ thêm. Cha đã hoàn toàn bị bưng bít, che mất tầm nhìn. Về đây, cha đã thấy và đã hiểu được những thay đổi trong Giáo Hội.
- Cha đã làm theo mệnh lệnh của đãng như là một cán bộ nhà nước, nhưng cha cũng đã làm theo tiếng nói của lương tri, đã nhận định được những sai lầm của mình, và đã sửa đổi.

Cha đã nằm xuống. Ta hãy mừng cho cha:
- với huy chương mang đầy ngực, cha đã vui sướng với quá khứ đấu tranh của mình, với những thành tích của một đời đi làm "cách mạng" và cha có quyền hãnh diện;
- những ưu tiên mà đãng và nhà nước đã dành cho cha đã giúp cho cha có cơ hội và điều kiện giúp đỡ bà con của cha khi mà họ cũng đều toàn là dân Ngụy;
- cha đã được chôn cất theo nghi lễ nhà nước, những vòng hoa chia buồn và những diễn văn thương tiếc làm cho họ hàng bà con của cha, những người còn lại, được hãnh diện, còn cha, cha nằm đó có còn biết gì nữa đâu!

Vinh quang của cha, lắm người chia sẻ
Những cơn quặn đau của cơn bệnh, cha chịu một mình
Quỳ ôm hôn chân Đức Hồng Y, đại diện chính thức của Đức Giáo Hoàng ghé Việt Nam
để tỏ ý "tạ lỗi" và "thần phục", cha đã tự ý làm, mấy ai hiểu được cha!?