Đánh võ với ma!

Quê tôi, chỉ nói tới trước năm 1975 thôi thì cũng đã có nhiều thay đổi. Hồi xưa, thật đúng là đất rộng người thưa. Đi từ đầu này đến đầu kia, nhiều khoảng đất trống, có nhiều bãi đất hoang vu. Sau này thì dầy đặc, nhà cửa san sát. Nơi mà sau này, người ta biết đến dưới cái tên là "Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp", có mấy ai biết rằng xưa kia, nó là "trường đua". Đó là nơi ăn chơi: đua ngựa, cờ bạc, đủ thứ khác..., và là nơi thi đấu võ đài. Nhiều người khi đến chơi, mặt mày hăm hở, khi ra về, mặt mày buồn hiu, trắng tay: thua sạch. Nhiều người thua nhiều, thất chí, tự tử. Trong khoảng giữa Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp với bờ rìa châu thành, hồi xưa là nghĩa địa Quảng Đông, nơi chôn cất những người Hoa sống trong vùng, rồi sau trở thành rừng hoang.

Bên ngoài vòng rào nghĩa địa, người ta sẽ thấy rải rác đó đây vài nấm mộ. Đó là mộ của những vỏ sĩ đã chết sau trận đấu, không ai đem về, chôn luôn ở đó. Thời đó, ở đâu không biết, chớ tại quê tôi, trước khi lên võ đài, vỏ sĩ phải ký tên chấp nhận "đánh chết bỏ, chết không đền mạng". Nhưng do phần thưởng khá cao, và do danh dự, do máu anh hùng, nhiều người chấp nhận. Nhiều người từ phương xa cũng tìm đến, và rồi ở lại đó dưới nấm mồ hoang.

Lúc tôi còn nhỏ, từ mí trường đua cũ trở về tới bờ rìa châu thành là đám rừng hoang. Ít ai dám "liều mạng" đi lang bang ở đó vì có thể gặp cọp, thứ hai là mỗi lần đi ngang đó sao thấy lạnh lùng quá, nghe ớn lạnh ở xương sống. Nghĩa địa Quảng Đông khi đó cũng đã hoang tàn, không còn bờ rào xung quanh, không còn ngôi mã nào nguyên vẹn. Nhiều ngôi mã đã bị đào lên, bộ xương nằm trơ ra đó, nhe răng cười! Chỉ nói ban ngày thôi, đi ngang qua đó, thấy vậy, yếu bóng vía cũng chạy vắt giò lên cổ, nói gì ban đêm. Vậy mà lần đó, ban đêm, tôi đã đến đó...

Hồi đó ngay cả ban ngày, ai mà mướn tôi một ngàn đồng để đi đến đó một mình tôi cũng không dám chớ nói tới chi tới ban đêm. Mà quý vị nên nhớ, lúc đó một tô hủ tiếu thiệt to giá có năm cắc, thì một ngàn lớn lắm chớ phải ít đâu. Nhưng mà đi tới bãi đất đó, toàn là cát, bước chân đi nghe sột sột, nghe như có ai đi theo sau lưng mình. Bước đi mấy bước lại phải quay lại nhìn phía sau coi có "ai đó" đi theo không. Gió ở đây cũng kỳ, khác với gió mấy chỗ khác. Nó thổi nghe xèo xèo, nghe vù vù làm mình cứ tưởng như có ai đang kêu mình! Để cho có thêm tự tin khi đi ngang qua đó, người ta thường cầm theo cây rựa, hay khúc cây để vừa đi vừa đập vô mấy bụi cây cho nếu có cọp trong đó, cọp nó "sợ" nó chạy, hay nếu có ma, gặp ma yếu bóng vía, thấy mình có rựa, ma sợ, ma biến đi! Rồi khi đang đi, mắc dịch mấy con thỏ rừng hay con sóc, nó nghe tiếng chân mình đi tới, nó bỏ chạy đi nghe cái sột làm cho tim mình như muốn rớt ra ngoài.

Hôm đó tới học, thầy tôi hỏi:

- Tối nay tụi bay đi với tao không?
- Dạ đi đâu bác?
- Đi vô nghĩa địa Quảng Đông
Trời đất! Vừa nghe xong mấy tiếng "nghĩa địa Quảng Đông" tự nhiên mình mẩy tôi nổi ốc, tay chân nổi da gà, một luồng điện lạnh chạy dọc theo xương sống!
- Dạ đi!

Anh Lai này ảnh ẩu tổ cha đi, chưa có gì hết mà trả lời ẩu. Chưa có bàn tán với nhau coi sao mà đã vuột miệng trả lời! Bác hai, võ sư Trương Công Cẩn, cũng chẳng thèm hỏi thêm, dặn:

- Tối nay, gần mười giờ, tụi bây xuống đây đi với tao!

Trời ơi! Tự nhiên tôi thấy rùn mình. Mà anh em ai cũng đi, học với bác có bảy thằng, ai cũng đi hết hổng lẻ tôi không đi? Trời ơi! Tôi kêu "Trời" vì giận anh Lai, anh này ảnh hại tôi, miệng mồm ẩu xị, ăn nói không cẩn thận...

***

Hơn chín giờ thì tất cả đã có mặt tại nhà tôi, vì nhà tôi là trạm cuối cùng trên đường tụi tôi đi tới nhà bác hai. Ngồi nói dóc với nhau một hồi, tôi cằn nhằn anh Lai quá trời, nhưng mà anh em khác trấn an: Đi có thầy mà lo gì! Gần mười giờ, tụi tôi lên đường đi tới nhà bác hai. Ai cũng mặc áo treillis (áo lính Tây hồi đó) cho nó ấm, quần xà lỏn (loại quần dùi, ngắn), chân mang guốc. Tới nơi thì bác hai cũng đã sẵn sàng. Một giỏ lễ vật bác đã chuẩn bị trong đó có một nải chuối sứ, một bình bông và một cây đèn dầu nhỏ, một bó nhang, giấy tiền vàng bạc. Lên đường!

Bác đi trước, tụi tôi nối bước theo sau, vì hồi xưa có đời nào mà trò đi ngang hàng với thầy. Từ nhà bác hai tới nghĩa địa Quảng Đông đi bộ chừng hơn nửa tiếng đồng hồ. Đoạn đường đầu, còn đi trong châu thành, có đường nhựa, tiếng guốc của tụi tôi khua lốc cốc trên đường nghe cũng vui tai. Nhưng mà tới bờ rìa châu thành, bắt đầu vô "đường ruộng", tiếng chân đi bắt đầu nghe phịch phịch như tiếng tim tôi bắt đầu hồi hộp đập. Đi một đoạn nữa thì tới nơi. Lúc đó gần mười một giờ đêm, giờ khuya, giờ của cõi âm! Chỗ đó có một lùm cây, bên trước lùm cây là một miếng đất trống. Trong miếng đất trống rải rác có mấy "mô" đất. Bác hai dừng lại, bác dặn tụi tôi:

- Lát nữa tụi bây đợi tao ở đây nghe!
Cũng anh Lai, ảnh vuột miệng trả lời:
- Dạ!
Tôi hỏi liền:
- Bác đi đâu?
- Thì tao ở chỗ này nè.

Bác vừa nói vừa đưa tay chỉ đám đất trước mặt. Hôm nay, tôi thấy bác hai mặc đồ chỉnh tề. Bác mặc cái quần dài đen, áo bà ba đen, chân đi guốc chớ không như ngày thường lần nào tụi tôi tới cũng thấy bác chỉ mặc có cái quần xà lỏn, ở trần.

- Tụi bây ngồi đây chơi, đợi tao hén.

Nói xong, bác xách giỏ đi lại mấy mô đất gần đó. Tụi tôi ngồi xuống bãi cỏ nhỏ trước lùm cây. Tôi ngồi ở giữa làm cục nhưn. Tới mô đất nào bác cũng cắm nhang, nhưng đặc biệt mô đất này, bác còn để cây đèn và dĩa chuối, đốt giấy tiền vàng bạc. Bác đứng ngay ngắn trước mô đất, cấm mấy cây nhang đưa lên trán: bác đang vái. Xong, bác trở lại chỗ chúng tôi ngồi. Bác cởi quần áo, chỉ còn mặc cái xà lỏn. Rồi bác đi trở lại mô đất. Bác đứng im đó một hồi. Trời ơi! Tôi kêu Trời thầm trong bụng. Bác hai đứng bên này mô đất, còn phía bên kia, úy chu cha ơi: có một bóng người! Cái bóng có vẻ mờ mờ, nhưng rõ ràng là dạng hình người, đàn ông. Cái bóng có vẻ rõ ràng hơn. Tim tôi sao nó đập mạnh quá, tôi sợ bễ ngực quá!

Đằng kia, bác hai xuống bộ: bái tổ. Bóng kia cũng bái tổ. Hai người bắt đầu "quần" nhau. Bác hai sàng bộ qua trái, "lấy gân", xong bác bỏ "chảo mã thủ". Kế bác rút co chân trái lên, kéo giăng tay phải xéo lên cao, tay trái xéo xuống, bác đang vô bộ "Phượng hoàng". Bóng kia xà ngang "đinh tấn ngang", hai tay bỏ bộ "xà" liền. Tôi liền nghĩ ngay đến thế trận "Điểu Xà ác chiến" mà bác hai đã có lần nói tới. Thiệt đúng như vậy, bác hai vừa "đá" xuống thì bóng kia "mỔ" lại liền. Rồi hai người quần nhau chí tử, từ bên này mô đất lan qua bên kia, rồi trở lại. Những đòn không trúng, "đánh gió" nghe xèo xèo. Những đòn trúng đích cũng nghe bịch bịch.

Coi thiệt đả mắt. Lưng tôi đã đẩm mồ hôi dù lúc đó đã gần khuya, sương xuống lạnh. Nhưng mà rồi! Bác hai nhảy ra bái tổ. Bóng kia cũng bái tổ. Hai "người" cúi đầu chào nhau. Xong, bác hai đi trở lại chỗ tụi tôi ngồi. Ủa! Mất tiều rồi! Bóng kia mới thấy tức thì giờ đâu mất tiêu. Bác hai chẳng nói chẳng rằng, lấy khăn lau mồ hôi, rồi mặc quần áo vô, dẫn tụi tôi về. Về tới nhà bác, bác dặn tụi tôi:

- Mai sáng tụi bây lại tao nghe hôn.
- Dạ

Tụi tôi ra về, lòng đầy hoang mang. Sáng sớm trở lại nhà bác hai, đâu đó xong xuôi, anh Lai hỏi liền:

- Hồi hôm ai vậy bác hai?

- Ma chớ ai!

Trời đất! Mà thiệt, tụi tôi cũng đã nghĩ như vậy, nhưng còn bán tín bán nghi. Hồi vừa tới đám đất đó thì đâu có ai, mà sau khi bác van vái rồi, khi bác thay đồ xong trở lại thì có "người" đứng ra đó. Rồi đánh nhau đả đời rồi thì bóng đó biến đâu mất. Mà đó là ai vậy?

- Tụi bây hổng biết hả? Đó là một vỏ sĩ đã chết "hoang" ở đây. Thằng nầy nó khá lắm, nhưng mà nó ham tiền, nó đánh thắng ba trận rồi, tiền độ cũng khá rồi. Thấy tiền nhiều, nó ham, nó đánh thêm trận thứ tư, bị người ta biết đòn hết rồi, người ta nghiên cứu đòn của nó cho nên khi nó sử dụng ngón "hoàng xà nghịch địa" định lăn vô thì bị thằng kia hạ với đòn "long phi giáng địa", bổ từ trên bổ xuống, cụp xương sống, rồi thằng kia chơi ác, dứt luôn với đòn "hổ trảo thám hoa", nó giẫy giẫy mấy cái rồi chết luôn trên đài. Người ta khiêng xuống chôn ở chỗ đó.

Nghe cũng thấy thương tâm, mà nghe cũng thấy ghê. Nhưng việc của quá khứmthì thôi không bàn tới nữa, chỉ nói chuyện bác hai thôi. Bác đấu gì kỳ khôi vậy? Mặc dầu bác đấu với ma nhưng mình mẩy bác cũng có chỗ bầm đây nè. Sao bác không đấu với ai là người "thiệt" mà lại chơi bất nhơn bất tử đi đấu với ma:

- Tao cũng không biết mặt "thằng" này, nhưng mà sau khi về ở xứ này, tao nghe chuyện nó. Năm ngoái, không có tụi bây đi theo, tao đâu có biết mã nào là mã nào, tao cứ vái đại, nhè lên một cô. Đánh không lại tao, nghề còn non, với lại yếu tay yếu chân, đánh một hồi kế nó chịu thua tao. Năm nay, gặp thằng này, đánh được. Đánh một hồi, tao thấy nó chuyên môn vô bộ xà là tao biết thằng này liền. Không lẻ "đánh chết" nó chớ, cho nên tao nhảy ra bái tổ kể như huề, tụi bây không thấy sao?

Trời đất thánh thần thiên địa ơi! Ma mà ông thầy tôi ổng còn đòi đánh chết, thì huống hồ gì là người ta. Mà thiệt, nghe ông thầy nói, tôi mới nhớ lại: dạy thì dạy, chỉ thì chỉ, chớ ít khi nào bác hai chịu "vô đòn" với tụi tôi lắm. Sau này, sau khi tôi đi học ở Sài Gòn về, tìm thăm bác thì bác đã về hưu, bác trở về quê bác, ở dưới Bạc Liêu. Mấy người biết chuyện có nói: Mầy không biết chớ ổng ít có dám đánh ai lắm. Ổng làm lính coi tù nên ổng sợ ở tù lắm. Ổng đánh hay đá mà đỡ bậy thì tay chân chịu không nỗi, mà đỡ không được, trúng đòn một cái có thể hộc máu chết như chơi. Cho nên ổng không dám đấu với ai hết, lâu lâu, "văn ôn võ luyện", ổng đi dượt với ma thôi...