Xô giàn

Theo tục lệ ở nước ta, tháng 7 âm lịch là tháng "cô hồn". Tháng 7 còn là mùa Vu Lan, mà ngày lễ chánh được cử hành vào ngày rằm (15 âm lịch):

"Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân"

Trong tháng 7, bà con ta, nhất là những người theo đạo Phật, thường ăn chay và cầu cho "cô hồn": những vong hồn "mồ côi", không còn có con cháu, thân nhân gì để cúng quảy cho. Việc cúng cô hồn trong tháng 7 âm lịch có ý nghĩa, bắt nguồn từ sự tích "Mục Liên Thanh Đề":

Mục Liên, còn được gọi là Mục Kiều Liên, có mẹ tên là Thanh Đề. Bà này khi còn sống, phạm vào tội chê bai tăng ni và tìm cách cho những vị này phạm vào giới cấm. Sau khi chết, bà bị đày xuống ngục A Tỳ, chịu cực hình đói khát và ngồi trên chông sắt, mỗi khi bà ăn hay uống thứ gì thì món đó đều cháy thành lửa. Đã biết rõ mẹ mình và thương nhớ mẹ, Mục Liên đã nhờ gậy phép và bồn bát của Phật Quan Âm, xuống tận cõi âm ty để cứu mẹ thoát khỏi cảnh cực hình, và khuyên mẹ ăn năn hối lỗi, nhờ đó bà Thanh Đề cũng đắc quả. Nhân dịp xuống âm ty, Mục Liên cũng thấy được có biết bao nhiêu người đang phải chịu cực hình và đói khổ, mà họ không thân nhân nào trên cõi trần tưởng hoài lo lắng cho. Về trần, bà cũng đã lập đàn rước thầy cầu siêu tụng niệm cho những vong hồn "mồ côi". Do đó, ngày lễ Vu Lan nhằm ngày rằm Trung Nguyên là dịp để các người con báo hiếu cha mẹ và cứu độ tha nhân.

Trong tháng 7 âm lịch này, những người "mộ đạo" thường ăn chay suốt tháng. Những người ít điều kiện hơn thì giữ "thập trai" (ăn chay 10 ngày) hay giữ "lục trai" (ăn chay 6 ngày). Còn những người "ăn chai" thì nội một ngày rằm cũng đã là quá mức.

Một việc không thể thiếu trong tháng 7 này là cúng cô hồn. Nhà nào cũng cúng (trừ những người theo đạo Thiên Chúa), cúng ngày nào cũng được miễn là một ngày trong tháng 7. "Giàu làm rộng, nghèo làm hẹp", giàu có thì cúng sum suê, nghèo thì "giản đơn". Hồi xưa khác, giờ khác. Trung trung người ta cúng một con gà, một dĩa bánh bò, bánh qui, một dĩa đậu phộng, mấy khúc mía, một ít trái cây, một ít giấy tờ vàng bạc.

Mâm cúng phải đặt ở ngoài nhà để cho các vong hồn "phảng phất" ngang qua có thể ghé mà "hưởng". Khởi sự cúng, gia chủ đốt ngọn đèn dầu, mấy cây nhang và giấy tiền vàng bạc, đợi cho đến khi nhang tàn hết thì bưng mâm vô. Mâm cúng phải để gần nhà và phải canh chừng vì các vong hồn thì chỉ "hưởng phần hương khói" thôi chớ mấy "cô hồn sống" mà thấy không ai canh chừng, chúng nhào vô giựt chạy thì ... buồn. Phần hương khói các vong hồn hưởng xong, ta đem phần thịt gà vô nhà, nhậu. Nhang tàn: cúng xong, gia chủ thường lấy muối và gạo đi rải xung quanh, mía với mớ đậu phộng, trái cây và ít bánh thì đem chia cho mấy đứa nhỏ vây quanh đó.

Nhà giàu thì cúng trên lầu cao, mâm cúng để ngoài bao lơn (balcony). Vong hồn nào có thể bay cao thì được một bữa no nê. Họ cúng heo quay, loại heo sửa. Họ cúng gà mập, loại gà mái dầu. Họ cúng bôm nho, loại trái cây mắc tiền. Giấy tiền vàng bạc họ đốt là loại được sản xuất ở Hong Kong. Họ đốt nhang Thái Lan. Họ cúng rượu Tây, bia Hòa Lan (Heineken). Mâm cúng của họ không sợ bị cô hồn sống giựt. Cúng xong, từ trên lầu cao, gia chủ cũng thường thẩy những món rẻ tiền xuống cho con nít nhà nghèo đang đứng bên dưới, ngóng cổ trông...

***

Hồi xưa, tôi rất thích rằm tháng 7. Ngày rằm, tuy không phải là Phật tử, tôi cũng "điểm trang" rồi đi chùa. Tôi cũng vào trước bàn thờ Phật, cũng cầm mấy cây nhang đốt, nhưng không phải đốt nhang để lạy Phật mà đốt dùm "người ta", để "người ta" lạy Phật, còn phần tôi:

"Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ màng
Tôi cầu xin Trời Phật
Cho tôi lấy được nàng"

Rồi tôi với người Phật tử đi dạo quanh chùa, ngắm tượng Phật, ngắm hồ sen. Đến giờ ngọ, sau hồi tụng, nhà chùa mời quý khách vào bàn "độ" bữa cơm chay. Cơm chay thiệt là ngon. Khách được mời dùng tự nhiên. Khách ngồi theo những bàn gỗ dài, cứ ngồi vào bàn là có người bưng mâm thức ăn ra mời. Thức ăn thì có: chả giò, cà ri, gỏi, nem, kiểm... bánh ít, bánh tét, bánh bò, bánh da lợn, bánh qui... Rồi theo thời cuộc, càng lúc càng khó khăn thêm, đâu có chùa nào còn có khả năng đãi ăn "free" như vậy nữa. Rằm tháng 7, lễ Vu Lan, các thầy cũng vẫn làm lễ cúng cho các vong hồn nhưng các bữa ăn như trên gần như không còn nữa.

Và "người Phật tử" không còn có dịp để đi lễ chùa, tôi còn đi đến đó làm chi nữa. Rồi mỗi năm, tháng 7, tháng cúng cô hồn, tôi lại nhớ tới chuyện ngày xưa.

***

Hồi đó, bọn tôi 8 đứa, khoảng từ 15 tới 18 tuổi. Bọn tôi đều là con nhà đàng hoàng, tánh nết không có ngang tàng, nhưng có tật hay phá xóm, phá làng, phá cho vui thôi chớ không có ý làm hại ai, tuổi trẻ mà! Thời đó, dưới trào Ngô Đình Diệm, bình yên. Việt Minh đã được gọi là Việt Cộng. Tối nào cũng vậy, chúng tôi đèo nhau trên bốn chiếc xe đạp, đi vòng vòng quanh châu thành, đi chơi cho mát rồi về ngủ.

Đêm đó, một đêm tháng 7 âm lịch, đi đâu cũng thấy người ta cúng cô hồn. Người ta cúng thì mặc người ta, ai cúng mặc ai, nhưng mà thím "tư thợ thiếc" cũng cúng. Vợ chồng thím này người Hoa. Chú làm nghề hàn ống nước, máng xối nên được gọi là thợ thiếc. Chú có tật lảng tai, hay nói nôm na là điếc. Chú hiền, ai cũng thích chú. Ai nói gì thì nói, ít khi chú trả lời, vì có nghe được gì đâu mà trả lời. Bởi vậy, có người nói: chuyện đời chú thường để ngoài tai. Chỉ có cái thím này là khó chịu. Đi học về ngang tiệm của chú, con nít thì có tật đi hay lấy chân xủi cát chơi, bụi bay lên. Thím thấy là la liền rồi lấy nước tạt làm mình sợ quần áo, phải chạy. Đi trên lề đường trước tiệm của thím thì thím la biểu coi chừng đạp hư đồ của thím. Cứ mỗi lần đi ngang là nghe tiếng thím la. Bây giờ thấy thím cúng, "lòng căm thù" nổi dậy, bọn tôi quyết "ra tay".

Trời tối, không thể thấy rõ trên mâm của thím có cái gì, nhưng dứt khoát con gà thì rõ ràng, không sai. Trời tối mà mình chạy lẹ thì dễ gì thấy mặt được: thiên thời. Sợ bụi, thím để mâm cúng trên một cái ghế, ngang với tầm tay của bọn tôi khi ngồi trên xe đạp: địa lợi. Bọn tôi rất nhanh tay, lẹ chân, mà lại tối trời chắc chắn là thím không thể thấy được đứa nào nhưng những nhà hai bên thì có thể thấy, mà họ đâu có ưa gì thím, dễ gì họ nói: nhân hòa.

Gió thổi tắt ngọn đèn dầu, thím trở ra đốt lại đèn rồi trở vô nhà ngồi canh ở cái ghế đặt cạnh cửa nhà. Thím vừa quay trở vô thì vù một cái, một chiếc xe đạp chạy vụt ngang nhà thím, rồi thôi, im. Thím cũng còn ngồi canh đó. Đợi hồi lâu, chắc bụng đã tàn cây nhang, thím đi trở ra mâm cúng, thì ôi thôi, y như là ai cắt cổ hay giựt đồ của thím. Thím la inh ỏi. Mặc thím la, từ phía ngả tư cách nhà thím độ 50 thước, từ trong bóng tối, bọn tôi rút lui êm, đi về điểm hẹn.

Gần 50 năm đã qua. Đó là thời tuổi trẻ, nhiều khi nhắc lại để mà cười. Nhưng nhớ lại không bằng thời xa xưa hơn, lúc còn nhỏ, rằm tháng 7, đi coi "xô giàn":


Cứ mỗi năm, đến rằm tháng 7, ở chùa Phật có lệ "xô giàn". Đó là một ngôi chùa nằm ở giữa đoạn đường đi từ Bà Rịa tới Long Điền. Đường xa độ non 3 cây số. Chùa Phật tuy không lớn bằng nhà thờ Công Giáo nhưng đối với tôi, nhận định cũng thay đổi theo thời gian, sau này thấy lại thì nó có vẻ "thấp lè tè, cũ kỷ và nhỏ", nhưng lúc đó thì nó lớn và ... lạ.

"Xô giàn" là một dịp để cho các nhóm hơn thua nhau: nhóm "xóm lưới" (gồm toàn dân sống nghề chài lưới), nhóm "xóm cát", nhóm "xóm nò", nhóm "xóm đình", nhóm "xóm chợ", nhóm "Long Hương"... Mấy xóm kia gồm toàn "dân thứ dữ". Mấy anh "đầu đàn" mấy nhóm đó đều là dân có "thành tích". Có người đã đánh thầy giáo rồi bỏ học. Có người ăn cắp tiền cha mẹ, bỏ nhà ra đi, ăn hết rồi lại trở về. Xóm tôi là hiền nhất, toàn là con nhà "đàng hoàng", nếu có chăng là một chút tinh nghịch. Mà không tinh nghịch sao được? Bà Rịa này có gì đâu mà vui chơi? Đi tắm sông thì sợ có ngày bị cá sấu "gắp". Đi chài kiếm cá ăn chơi thì coi chừng"ma da" kéo cẳng. Đi rừng bắn chim chơi thì sợ cọp vật. Chỉ còn có nước là đi phá xóm phá làng, đi hái trộm trái cây, giỏi lắm là bị chửi, cùng lắm bị "mắng vốn" (tức là người ta tới nhà mét ba má) thì bị đòn ít roi, còn nếu không bị "phát giác", đem trái cây trộm được tới nơi nào đó ngồi lại ăn thì không gì thú bằng. Cầm đâu xóm tôi là anh Quăn. Ảnh đâu phải tên này nhưng vì tóc ảnh có mấy lọn quăn quăn nên ban đầu người ta gọi là "Vinh tóc quăn", riết rồi chết tên luôn.

Phe của tôi, hay đúng ra là của mấy anh tôi, có độ 7, 8 anh, dĩ nhiên là không có tôi ở trong đó, vì tôi mới có 3, 4 tuổi, ai mà cho "vô", vả lại có thêm tôi thì thêm "nợ" chớ ích lợi gì. Trước ngày "đại lễ", mấy ảnh họp bàn kỷ luỡng. Mấy ảnh "họp" ở bên hông hè nhà tôi, tôi nằm trên ván bên trong vách, tôi nghe hết. Tôi không hiểu được mấy ảnh nói gì nhưng tôi biết được là sẽ có bánh và có tiền. Bởi vậy, ngày hôm sau, khi mấy ảnh "lên đường", tôi đòi đi theo. Anh ba tôi dụ tôi:

- Em ở nhà với má, lát anh về anh đem bánh về cho em ăn.

Tôi không chịu. Thấy vậy, anh hai tôi mới nói:

- Thôi kệ, cho em đi đi, tội nghiệp em.

Anh Quăn liền ra lệnh:

- Thôi kệ được! Hổng ấy tụi mình thay phiên nhau cõng nó!

Vậy là xong, đoàn lên đường. Phải đi cho nhanh để đến nơi kịp giờ. Vừa mới đi đến ngã tư cách nhà độ 20 thước thì tôi đã bị "rớt" lại phía sau. Thế là kế hoạch "cõng" bắt đầu được thi hành. Và tôi cứ ngồi yên trên lưng, hết ngựa này cho tới ngựa khác cho đến nơi. Mỗi đứa đều có cái nón, đặc biệt có đem theo hai cái nón lá, sau này tôi hiểu đuợc "kế hoạch".

Khi phe tôi tới thì sân chùa đã đông người. Cổng vào cũng đầy ắp người, anh Quăn dẫn cả đám đi băng xuống ruộng, đến bên phía phải của mặt tiền chùa, lấy nơi này làm "cứ điểm". Ảnh đứng đó ảnh quan sát. Phía trước ngôi chùa, trong sân chùa, có dựng một cái giàn bằng cây với ván cao độ ngang đầu người. Trên giàn có để một cái giá hình chóp, trên đó có gán đầy bánh, nhiều lắm. Hai bên cái giá này có hai cái bàn trên đó cũng có để bánh và giấy tiền vàng bạc.

Theo thường lệ, lễ cầu siêu được cử hành, tụng niệm bên trong chùa. Lễ xong, các vị mới bước ra ngoài, một vài vị leo lên giàn để làm một số nghi thức nữa. Các vị khách thì đứng trước mặt tiền chùa, coi chơi. Nghi thức xong, từ trên giàn, các vị sẽ thẩy bánh trái xuống bên dưới cho đám dân nghèo được coi như là "cô hồn sống" để họ tha hồ mà giành giựt, kiếm tí của ăn. Rồi "phần" hấp dẫn nhất là xô cái giá có treo bánh kia xuống. Đám dân nghèo nhào vô, cấu xé nhau giựt. Các vị đứng coi: cười.

Anh Quăn ảnh quan sát kỹ lám: ngay phía trước giàn có đông đủ mặt các phe. Ảnh kêu mấy anh lại bàn, xong mấy ảnh đi lại bên hông giàn. Anh tôi dặn tôi:

- Em đứng đây đợi anh, đừng đi đâu nghe!

Tôi gật đầu rồi đứng yên một chỗ, "ngoài vòng chiến". Mấy anh trong phe cứ đi vòng vòng, thỉnh thoảng anh tôi trở lại xem chừng tôi. Chờ lâu thiệt là lâu mới cúng xong, mấy vị bước ra. Sân chùa đã ồn ào giờ lại ồn ào thêm vì sắp tới hồi gây cấn. Có đâu hai ba vị bước lên giàn. Người ta bắt đầu lấn nhau ở bên dưới. Nghi thức bên trên giàn bắt đầu, mấy vị phải rán đọc thật to nhưng không làm sao át được tiếng la của đám đông. Trời bắt đầu vần vũ (có mây mưa), sụp tối. Trời như sắp mưa mà lễ chưa xong. Rồi mưa rớt hột. Anh tôi chạy lại chỗ tôi, biểu tôi đội nón cho đở ướt rồi anh chạy trở lại "tham chiến". Mưa nhiều hơn, tờ giấy vị ấy đọc sắp hết. Nhốn nháo thêm. Đọc xong, vị đó đưa tờ giấy cho người bên cạnh cầm để đốt. Chen lấn trở nên dữ dội. Trên giàn, người ta che dù để rán đốt giấy tiền vàng bạc và tờ giấy kia. Rồi bánh bắt đầu được thẩy xuống. Mấy anh trong nhóm tôi nhảy lên, đưa nón lá ra hứng. Nhờ nón lá rộng, mỗi lần như vậy được khá nhiều bánh. Anh tôi chạy ra đưa cho tôi, tôi phải lột nón để đựng bánh, nhiều quá, tới mấy cái lận. Anh tôi biểu tôi ăn, tôi một tay ôm nón bánh, tay kia cầm cái bánh ăn. Đưa rồi dặn tôi xong là anh tôi chạy liền. Đọc xong gì đó, đợt bánh khác được thẩy xuống. Anh tôi lại trở lại chỗ tôi đứng, đưa thêm bánh cho tôi "ôm". Anh tôi hỏi:

- Em lạnh hôn?

Tôi lắc đầu mà răng thì đánh bồ cạp (lạnh run). Trên giàn bây giờ là hồi gây cấn nhất: sắp thẩy tiền xuống. Vị chức sắc, miệng thì đọc ê a gì đó, tay thì cầm xấp tiền. Lúc đó, một anh trong phe tôi ngồi xuống, anh Quăn leo lên vai rồi phóng lên giàn. Người ta thấy một bóng người chạy vụt ngang giàn: xấp tiền trên tay vị đó mất tiêu. Bóng đó nhảy xuống giàn, chạy băng ruộng ra đường lộ, chạy luôn về phía chợ: anh Quăn. Chạy được một đổi xa, yên trí không có ai rượt theo, anh dừng lại, có một anh tôi chạy theo ảnh ở phía sau "yểm trợ": bình yên. Ngồi nghỉ một lúc, mưa vẫn tầm tả, anh Quăn trở lại. Ảnh vòng sau chùa đi lại chỗ tôi đứng, nói nhỏ gì đó với anh tôi xong thì anh tôi cõng tôi băng ruộng đi về, đi ngang, ảnh ngoắc mấy anh kia chạy theo.

Ngoài kia chưa xô giàn: cái giá bánh chưa được xô xuống nên thiên hạ còn chờ. Bên trong chùa, mấy vị già ngồi uống trà. Mấy bà thì lo "cơm nước, tiệc tùng" ở phía sau. Anh Quăn lẻn vô chùa. Mấy cái bàn ở giữa chùa thì bánh trái đầy ắp nhưng có nhiều người ngồi gần đó. Mấy cái bàn nhỏ bên trong thì ít bánh nhưng không có ai ngồi gần. Anh Quăn ảnh bò vô, ngoẻo cổ nhìn lên bàn, ảnh đứng lên, lấy cái dĩa, ngồi xuống, trút bánh vô áo. Rồi ảnh đứng lên, trả dĩa, xong ngồi xuống: cái dĩa khác. Được ba dĩa thì ảnh nghe tiếng chân đi tới, ảnh túm lẹ cái áo chạy vụt ra, ảnh chạy băng ruộng. Bọn tôi còn chờ ảnh ở ngã ba "cầu tàu": về!

Ngồi trên "ngựa", mặt tôi tái mét, môi tôi tím ngắt nhưng hai tay vẫn ôm chặt nón bánh. Về đến nhà chia nhau chiến lợi phẩm: bánh, có cả phần tôi, mỗi đứa được 8 cái, còn dư 2 cái, cho tôi; tiền, tôi không có phần, mỗi người được 8 đồng, còn lẻ 1 đồng, cho tôi. Tính ra, anh em tôi lời, 3 anh tôi được tổng cộng 24 đồng, còn đồng bạc của tôi, tôi nói:

- Em em dề em ưa má i chợ! (Em đem về em đưa má đi chợ).